Friday, May 6, 2011

05/05 Xếp hàng đi... học múa cột

Thanh Niên – Thứ năm, ngày 05 tháng năm năm 2011

Những động tác quyến rũ, hấp dẫn, múa cột thể hình đã trở thành cơn sốt trong giới trẻ các nước châu Á thời gian qua. Tại Hà Nội, từ giữa tháng 4, nhiều người đã phải xếp hàng để được học một lớp múa cột thể hình đầu tiên.

Tại một phòng tập trên phố Bà Triệu, trên nền nhạc nhảy, nhóm học viên chăm chú hướng theo từng động tác của cô giáo trẻ. Như một diễn viên xiếc, cô giáo đu lên cột, xoay vài vòng trên không, rồi “hạ cánh” nhẹ nhàng xuống sàn gỗ khiến cho các học viên ồ lên vỗ tay, suýt xoa tán thưởng.

Đến lượt “trò” thi nhau thực hành với cột, trông mặt ai cũng căng thẳng, hồi hộp. Giọng cô đếm nhịp còn chưa dứt, tiếng chân học trò đã nện xuống sàn thình thịch.

Khó, mệt nhưng tinh thần vô cùng hưng phấn, đó là cảm nhận của các học viên sau một vài buổi tập. Huyền Diệu, nhân viên một công ty truyền thông, thích thú cho biết:

“Ban đầu hơi vất vả vì phải làm quen với những động tác múa ballet, mũi chân lúc nào cũng phải duỗi thẳng. Động tác xoay tròn rất chóng mặt. Khớp xương kêu răng rắc. Chân cứng đờ. Từ cánh tay, vai, hông, mỏi rã rời. Bù lại, mình thấy tinh thần rất phấn chấn, càng tập càng hăng. Đặc biệt, động tác bay trên cột, cơ thể như được giải phóng. Cảm giác này mình chưa bao giờ có được ở những bộ môn khác”.

Múa cột (pole dance) là môn thể thao kết hợp giữa múa ballet, belly dance, salsa, tango… giúp cho người tập luyện gia tăng sự linh hoạt, cải thiện dáng vóc. Đón trước xu thế, cách đây 2 năm, khi phong trào múa cột bắt đầu xuất hiện ở Trung Quốc, Hồng Kông, Thái Lan... Công ty Isis World Dance Studio quyết định cử giáo viên ra nước ngoài học múa cột để về dạy lại.

Cô giáo Phương Liên bộc bạch: “Ở Việt Nam, nhiều người vẫn còn định kiến, cho rằng múa cột không lành mạnh, chỉ dành cho vũ nữ, gái nhảy ở quán bar trong khi vũ điệu này đã trở nên phổ biến khắp thế giới bởi vẻ đẹp và giúp người tập có một sức khỏe dẻo dai, khỏe mạnh".

Theo chị Phương Liên, tất cả mọi người, kể cả nam giới đều có thể học múa cột. Học viên sẽ được học cách sử dụng cơ thể như một thứ ngôn ngữ quyến rũ thông qua những bước xoay cơ bản, bước chuyển động duyên dáng, động tác chuyển tiếp gợi cảm, động tác “bay” trên cột… để tăng cường sức mạnh toàn cơ thể, săn chắc ngực, eo, mông, đặc biệt hiệu quả đối với phụ nữ trong việc “nâng cấp” vẻ đẹp hình thể.

Năm 2010, công ty Isis mở lớp dạy thử nghiệm tại Hà Nội với 10 học viên nhằm chọn ra các bài tập phù hợp với thể lực và sức khỏe người Việt. Kết quả thật không ngờ khi có rất nhiều người đăng ký. Đối tượng chủ yếu là sinh viên và chị em làm văn phòng. Đến nay, dù đã mở đến lớp thứ 3, số lượng người muốn tham gia múa cột vẫn chưa dừng lại.

Nguyễn Hạnh Nguyên (nhân viên Cục Hàng không) hào hứng: “Mình không biết nhiều về múa cột, nhưng nghe bạn nói, ở nước ngoài bộ môn này còn được giảng dạy ở các trường ĐH giúp sinh viên giảm stress sau mỗi đợt thi cử. Công việc của mình cũng nhiều áp lực nên cũng muốn học để giải tỏa. Mình đã đăng ký khóa đầu tiên, nhưng chậm chân nên đành phải “xếp hàng” chờ đến giữa tháng 5 mới có lớp mới”.

Lý do mà học viên ở đây đông vì học phí khá rẻ, 650.000 đồng/khóa (10 buổi) với nhiều trình độ khác nhau. Cá biệt, có trung tâm thu đến 1.400 USD cho một khóa học kéo dài cả năm.

Hải Bình


ỘI DUNG LIÊN QUAN

410 lời bình

27/04 “Xuất khẩu” thông tin phục vụ kiều bào

27/04/2011 08:00:06 AM

1a.jpg
Để triển khai gói kênh truyền hình phục vụ cộng đồng người Việt ở nước ngoài rất cần sự tham gia hợp tác của các đài truyền hình trong nước. Ảnh: THANH HẢI

ICTnews - Bộ TT&TT đang lập đề án xây dựng gói kênh truyền hình hoàn toàn không sử dụng vốn nhà nước sẽ được đưa ra nước ngoài để phục vụ cộng đồng người Việt và những người quan tâm đến Việt Nam.

Cách làm sáng tạo

Thay vì các kênh truyền hình tổng hợp riêng lẻ đang được một số đài truyền hình thực hiện và truyền dẫn ra nước ngoài như VTV4 của Đài THVN, VTC10 của Đài KTS VTC, kênh Thuần Việt của Đài TH TP.HCM (HTV), đây sẽ là một gói dự kiến khoảng 10 kênh truyền hình chuyên biệt như địa chí, văn hóa, kinh tế đầu tư, thư giãn, phong cách sống, phim truyện, trẻ em…

Ông Nguyễn Trường Sơn, Giám đốc Trung tâm Hợp tác báo chí và truyền thông quốc tế (Bộ TT&TT), đơn vị khởi thảo ý tưởng đầy táo bạo này cho biết, dự án được xây dựng trên cơ sở thực hiện đúng theo tinh thần của Chỉ thị 26 CT/TƯ ngày 10/9/2008 của Ban Bí thư khóa 10 về tiếp tục đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại (TTĐN). Theo ông Sơn, trong khi nguồn lực đầu tư bằng NSNN rất eo hẹp mà nhu cầu được thưởng thức các chương trình truyền hình Việt của bà con Việt kiều, đặc biệt ở Mỹ, Canada và châu Âu còn rất lớn do hiện nay của các đài truyền hình chủ yếu phát sóng quảng bá các kênh thông tin tổng hợp, khó tiếp cận được với bà con vì cả yếu tố kỹ thuật và chính trị.

“Các kênh chuyên biệt hiện nay là xu hướng chung của thế giới. Vì vậy, giải pháp của Đề án là sẽ “đóng gói” các kênh chuyên biệt thành 2 gói cơ bản và lựa chọn, với số lượng và nội dung thay đổi tùy thuộc vào sự thay đổi trong kết quả điều tra nhu cầu xã hội hàng năm của chúng tôi. Sẽ không còn là các kênh phát quảng bá mà gói kênh này sẽ được Công ty nghe nhìn AVG mang đi chào hàng với hệ thống truyền hình trả tiền ở nước ngoài. Như vậy, đây sẽ là một phương thức hoàn toàn mang tính thương mại, mang tính rủi ro của kinh doanh, lời ăn lỗ chịu và sẽ không sử dụng NSNN”, ông Sơn khẳng định và cho rằng đề án sẽ có tính khả thi và thành công hơn nếu có sự tham gia hợp tác của đài truyền hình trong cả nước trong việc chia sẻ, cung cấp chương trình.

Như vậy có thể thấy sau khi Quy chế quản lý THTT ra đời đã tạo một cơ chế thuận lợi cho sự liên kết giữa các đơn vị sản xuất nội dung với các nhà kinh doanh dịch vụ THTT để đây thực sự trở thành một ngành kinh doanh có hiệu quả cao không chỉ về kinh tế mà cả ý nghĩa chính trị, xã hội.

Không lo làm quá nhiều

Theo tổng hợp ý kiến bằng văn bản của các cơ quan có liên quan như Ban Tuyên giáo TƯ, Ban chỉ đạo TTĐN, Ban đối ngoại TƯ, các Bộ Ngoại giao, VHTTDL, Công an, VTV… đều khẳng định sự đồng tình với sự cần thiết của Đề án. Theo Thứ trưởng Bộ TT&TT Đỗ Quý Doãn, quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước là việc đưa thông tin về tình hình trong nước ra nước ngoài, nhất là với bà con kiều bào và những người quan tâm đến Việt Nam luôn được ủng hộ, càng nhiều càng tốt và không bao giờ là quá nhiều. Đây cũng đang là nỗ lực của Bộ TT&TT chỉ đạo các đơn vị chức năng và báo chí thực hiện bằng nhiều phương thức… “Đề án này rất đáng hoan nghênh. Hơn nữa việc Đề án này được phê duyệt cũng không hề ảnh hưởng tới các đơn vị khác đang và sẽ được Nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện truyền hình đối ngoại bởi nó được xã hội hóa hoàn toàn, không sử dụng NSNN. Về nội dung của các chương trình trong gói kênh này, Bộ TT&TT hoàn toàn có đủ cơ sở pháp lý cũng như năng lực để đảm bảo không vi phạm các quy định về bản quyền và tính nguyên vẹn của các chương trình do các đài PTTH trong nước sản xuất”, Thứ trưởng Đỗ Quý Doãn khẳng định.

Trên phương diện kinh doanh, đại diện Bộ Công an cho rằng, Đề án này hoàn toàn có tính khả thi, nhất là khi đơn vị xây dựng Đề án lựa chọn thị trường Bắc Mỹ và châu Âu, nơi có cộng đồng người Việt sinh sống rất đông. Gói kênh sẽ có nhiều khả năng đạt được thỏa thuận với các mạng truyền dẫn truyền hình ở khu vực này bởi họ nhìn thấy rõ tiềm năng số lượng thuê bao là người Việt sẽ tăng lên. Tuy nhiên, sẽ có một nhóm đối tượng khác cũng rất đáng lưu ý đó là những người nước ngoài quan tâm đến Việt Nam vì nhiều lý do như sở thích cá nhân, do mục đích nghiên cứu của các nhà báo, học giả, thậm chí là cả các nghị sĩ và các chính trị gia của các nước. Vì vậy, nội dung chương trình trong gói kênh này cũng cần chú ý đến thông tin về chính sách, pháp luật, thực trạng và tiềm năng kinh tế trong nước nhằm quảng bá hình ảnh đất nước và thu hút đầu tư.

Hồng Minh

Bài viết đã đăng trên báo Bưu điện Việt Nam số 50 ra ngày 27/4/2011.


Thursday, May 5, 2011

05/05 Những chuyện rất duyên về Kỳ Duyên


Ngày 05.05.2011, 09:13 (GMT+7)


SGTT.VN - Hẹn gặp Kỳ Duyên không dễ tí nào, khi cô có lịch làm việc dày đặc từ Mỹ về Hà Nội, rồi Sài Gòn, rồi Đà Nẵng. Người nữ MC này nổi tiếng ngay từ giây phút xuất hiện đầu tiên cách đây hơn 20 năm, không chỉ vì cái tên gắn với ông bố nổi tiếng Nguyễn Cao Kỳ, mà còn vì cô có một sức hút của người cầm micro trò chuyện về buồn vui của âm nhạc tạp kỹ trong cộng đồng văn nghệ hải ngoại. Bản lĩnh và chân thành, cô đã tạo nên một hình tượng MC nữ rất đẹp và xem ra đến tận bây giờ chưa có đối thủ.
Từng làm photographer
Chị đã học nghề luật sư để rồi trở thành MC ca nhạc, tại sao?
Hồi sinh viên, để có tiền đóng tiền học, tiền nhà, mua sắm... tôi đã từng làm đủ mọi nghề từ chạy bàn trong các nhà hàng đến phụ tá cho các văn phòng luật sư. Tôi đã từng có nhiều năm làm photographer, chuyên chụp cho các model để họ tự giới thiệu họ cho giới quảng cáo. Từ nghề chụp hình, tôi có mối quan hệ tốt với các người mẫu, rồi dẫn dắt đến nghề đọc tên người mẫu, ca sĩ trong các show biểu diễn thời trang. Rồi đến một ngày người ta phát hiện tôi có khiếu ăn nói trên sân khấu, và tôi đã dần dần trở thành MC ca nhạc chuyên nghiệp.
Chị đã làm cả nghề chạy bàn ư, điều này xem ra khó tin đối với một cô gái từng được xem như một công chúa?
Tôi chưa bao giờ xem mình là một công chúa cả. Tuổi thơ của tôi cũng như bao người bình thường khác. Tôi có cha mẹ, anh chị em đông vui quây quần trong gia đình. Hồi bé thì tôi chơi các trò chơi dân gian như banh đũa. Lớn lên thì tôi được dạy phải có suy nghĩ rằng đã làm người thì nghề gì cũng quý, miễn là mình sống lương thiện. Bây giờ nếu nghề MC không nuôi tôi nổi nữa, biết đâu nếu phải làm người đổ rác để kiếm tiền nuôi con, tại sao tôi phải xấu hổ?
Chị nghĩ vì sao chị thành công nhất đối với nghề làm MC?
Tôi có sự nỗ lực học hỏi để vươn đến sự toàn diện, và cộng với một chút may mắn. Nhưng trên hết đó là tôi lên sân khấu với tôi ngoài đời không khác nhau. Tôi nghĩ để thành công với bất cứ nghề nào, bạn cũng phải chinh phục người khác bằng chính con người thật của bạn.
Muốn sống ở nơi nơi nào có... nắng thuỷ tinh
Chị là người lãng mạn, phải không nhỉ?
Tôi lãng mạn theo chiều hướng vui tươi. Tôi luôn có cảm giác mình chỉ vui khi đi đến những nơi có nắng đẹp. Buổi sáng nào thức giấc, tôi cũng mở toang cửa sổ để đón nắng lùa vào, xem nắng nhảy múa! Tôi thấy nắng đẹp kinh khủng. Tôi mê nhất là bài hát Nắng thuỷ tinh của Trịnh Công Sơn, trong đó tôi “lịm” đi từ câu đầu tiên “Màu nắng hay là màu mắt em!”Những nơi tôi đã đi qua, nếu không có nắng, tôi thấy ảm đạm buồn chán lắm.
Đó là lý do chị sẽ chọn sống ở Việt Nam?
Tôi từng nghĩ không có nơi nào đáng sống hơn vùng nắng ấm Cali nơi tôi đang ở. Nhưng rồi đến một ngày đẹp trời, tôi đã dừng chân tại Đà Nẵng này, tôi đã... phải lòng với Đà Nẵng. Tôi đã tung tăng chân trần trên biển Đà Nẵng và sung sướng đến phát khóc.
Chị đã thuyết phục được gia đình khi chọn mảnh đất này?
Tôi có hỏi ý kiến bố tôi. Ông bảo ông hài lòng nếu tôi chọn Đà Nẵng để làm nơi thực hiện giấc mơ có một ngôi nhà gần biển và nắng ấm của tôi. Tôi đã đi vòng quanh Đà Nẵng và thực sự thấy hạnh phúc khi nhìn thấy sự phát triển của cơ sở hạ tầng, những gương mặt trong trẻo hồn nhiên, những món ăn đậm đà hợp khẩu vị... Tôi đã quyết định hợp tác với người bạn để mở một nhà hàng đẹp bên cầu Sông Hàn để có một nơi tới lui với bạn bè. Thật là may mắn khi nhìn thấy nhà hàng này được xây dựng thật bắt mắt. Memory, tên của nhà hàng, giờ đây đã là một cô gái đẹp, tôi có nhiệm vụ làm cho “cô gái này” trở nên duyên dáng quyến rũ hơn.
NHÀ TÔI TOÀN ĐÀN BÀ!
Chị luôn tự hào về mẹ, đã có bao giờ chị cãi lời mẹ chưa?
Hồi tuổi 20 tôi có một lần cãi mẹ và tôi dọn ra ở riêng. Đó là kỷ niệm nhớ đời của tôi. Lúc đó tôi thích một anh bạn thuộc giới văn nghệ, mẹ tôi thì muốn tôi tập trung học đại học và không cho phép tôi đi chơi riêng với anh ấy. Tôi bướng, cứ nghĩ là ừ mình cứ đi chơi cũng đâu có hại gì? Mẹ bảo là trong nhà này mẹ có quyền có ý kiến, ai cãi lại thì đi ra khỏi nhà. Thế mà tôi dám dọn đi thật (cười). Tôi dọn ra ở chung với vài người bạn học, cùng chia nhau tiền thuê nhà. Quen sống với mẹ từ nhỏ được cơm nóng canh sốt, giờ sống riêng, tôi chẳng biết nấu nướng gì. Mẹ đến thấy xót con gái, thế là cứ chạy lui chạy tới nấu món này món kia để tủ lạnh cho con gái ăn. Cứ thế rồi mẹ con vui vẻ với nhau như cũ. Nhưng tôi vẫn ở riêng, và càng ở xa mẹ, tôi càng thấy cái nếp mẹ dạy càng ăn sâu vào mình, và mình không thể “hư hỏng” được. Tôi tập sống tự lập, làm đủ nghề để có tiền đóng tiền học. Tôi vâng lời mẹ để tốt nghiệp đại học, rồi đi làm một thời gian ngắn, và khi chuyển sang làm MC thì tôi xin phép được toàn tâm toàn ý với nghề này.
Chị thấy đức tính nào của mẹ mà chị ngưỡng mộ nhất?
Nhã nhặn. Mẹ tôi luôn nhã nhặn với tất cả mọi người. Ngay từ bé trong nhà tôi nhiều người giúp việc, từ lái xe đến người nấu bếp, mẹ dạy các con chào hỏi lễ phép và không bao giờ được to tiếng với ai. Mẹ tôi còn khiến tôi cảm phục ở tình yêu gia đình vô bờ bến. Mẹ tôi nuôi một đàn con riêng của chồng mà yêu đồng đều đến độ chúng tôi đều tưởng mình là do mẹ đẻ ra. Sau này khi tôi trưởng thành tôi mới nghe mẹ kể lại là “Mẹ đâu có muốn đẻ thêm em đâu, tại vì em cứ đòi chui ra, chứ mẹ đã có các anh chị đông vui đầm ấm rồi đấy chứ!” Đến bây giờ, mẹ vẫn xưng “mẹ” và gọi tôi là “em”, tức là... em bé đấy! Trong mắt mẹ tôi cứ mãi là một đứa trẻ con cần được bảo bọc thương yêu suốt đời.
Tôi còn nhớ mãi cái lần tôi phải đóng một vai bà già 80 tuổi trong chương trình Giã từ thế kỷ. Lần đó, tôi vừa sinh con gái út được mười ngày là phải lên sân khấu. Tôi được hoá trang bởi êkíp chuyên nghiệp của Hollywood. Họ tiêm một loại hoá chất làm co rút da khiến cho tôi nhăn nhúm như một bà già đúng nghĩa. Mẹ tôi xem tôi vào vai mà mẹ tôi khóc thút thít. Mẹ nói “Mẹ sợ sau này em già em nhăn nheo thế này mẹ buồn mẹ thương em quá!” Tôi vừa đẻ xong, sức khoẻ còn rất yếu, nhưng vì đã nhận chương trình, thuê địa điểm và thời gian quay phim, nên bằng mọi giá tôi phải vào vai, lúc đó chính mẹ tôi là người lo lắng mọi thứ cho tôi. Một tay mẹ giữ cháu, nấu ăn, giặt giũ, thực đơn ăn uống giảm cân để mặc vừa trang phục sân khấu đã thiết kế, mẹ lo hết!
Nếu bây giờ mà bạn trai tôi nói tôi là đàn bà ngốc, tôi sẽ mỉm cười chấp nhận vui vẻ. Ừ, thì em ngốc, nhưng mà sao nào?
Những gì mẹ mang đến cho đời tôi, thật không thể nào đong đếm nổi. Các con tôi, Mai Ly và Yên Ly đều yêu thương bà ngoại. Trong nhà tôi giờ toàn đàn bà. Chúng tôi là một khối ruột thịt đầm ấm không thể tách rời. Trên người tôi có hình xăm tên Mai là mẹ, tên Mai Ly, Yên Ly, và ba người này tạo thành dòng chữ My Life. Đó chính là cuộc đời tôi. Sau này, khi hôn nhân hai lần không trọn vẹn, ba thế hệ phụ nữ chúng tôi càng có ý nghĩa sống còn với nhau. Tôi có thể sống thiếu chồng, chứ không thể thiếu mẹ và hai con gái của tôi được. Gần đây, Yên Ly nói một câu mà khiến mẹ và bà ngoại đều rơi nước mắt: “Con ước gì con tặng được cho bà ngoại 20 năm của đời con, để bà ngoại sống thật lâu bên chúng con!”
Chị dạy con theo cách mẹ dạy chị chứ?
Tôi thật may mắn vì bên cạnh người mẹ tuyệt vời, tôi có được hai đứa con gái trên cả mơ ước. Tôi có bầu dễ chịu, sinh nở nhẹ nhàng, nhanh. Lần nào sinh tôi cũng sinh thường, vào bệnh viện là mang theo cuốn sách dày, ngồi đọc sách miệt mài đến khi nào đẻ là gọi bác sĩ đến. Tôi có bầu cũng gọn gàng, ăn bao nhiêu bổ thì vào con, đẻ con bụ bẫm, còn tôi thì sau vài tuần là vóc dáng trở về như cũ. Việc nuôi dạy các con cũng hết sức đơn giản gọn nhẹ cũng nhờ các cháu có bà ngoại đảm đang khéo léo nữa. Các con tôi, ơn trời, có ý thức tiết kiệm từ bé. Các cô chú văn nghệ luôn khen các cháu, bảo là đưa đi shopping, Mai Ly và Yên Ly luôn luôn chỉ chọn những món rất nhỏ, ví dụ một cây kẹp tóc, một cuốn sách, ngoài ra không bao giờ đòi hỏi cái gì khiến người lớn phải khó xử. Điều này tôi không dạy mà tự các cháu có ý thức.
Tôi cũng là một người sống tiết kiệm. Từ bé đến giờ chưa bao giờ tôi vung tay mua sắm cái gì xa xỉ. Gần đây nhất, tôi dám mua cho mình một đôi giày hiệu, mà là đã được giảm 50%. Tôi nghĩ tôi học ở mẹ tôi cái tính không ngại làm nghề gì miễn là lương thiện. Còn các con tôi thì học ở tôi cái tính tiết kiệm.
Tôi thích đàn ông cho rằng tôi ngốc!
Chị chấm điểm nhan sắc mình bao nhiêu?
Tôi nghĩ tôi chỉ được khoảng 5 điểm. Nhờ may mắn, tôi làm nghề sân khấu, được làm việc với êkíp trang điểm, thiết kế chuyên nghiệp, cộng với đã có quá trình được học cách đi đứng, ăn nói... khiến cho tôi được cộng thêm khoảng 3 điểm nữa.
Chị có khắc phục khuyết điểm ngoại hình bằng các biện pháp dao kéo?
Có một sự thật là 20 năm đứng trên sân khấu, tôi chưa cần đến dao kéo thẩm mỹ. Sau này thì chưa biết sẽ ra sao. Tôi không phản đối chuyện làm đẹp. Nếu bạn nói bạn tin vào vẻ đẹp tự nhiên thì bạn đừng son phấn! Trang điểm cũng là đã không tự nhiên rồi còn gì nữa. Hiện giờ tôi hài lòng với bề ngoài của mình. Nhiều người khuyên tôi đi bơm môi cho môi gợi cảm hơn, tôi cũng chưa nghe theo. Tôi chỉ có đi chăm sóc da mặt cho có vẻ tươi trẻ. Tôi thật sự quan tâm đến cái tư duy hơn là hình thức. Nói thì nghe có vẻ xa lạ, nhưng thực tế thì ai đến nhà tôi, phòng riêng của tôi thì đều thấy lúc nào tôi cũng mở tivi để xem tin tức thế giới, tin chứng khoán, xu hướng thị trường... chứ không bao giờ có hình ảnh sàn catwalk trong phòng tôi, trừ khi tôi gặp gỡ các bạn làm nghề trang điểm, thiết kế. Đi xa, lúc nào rảnh tôi cũng chúi mũi vào đọc sách trên kindle. Nói chung là tôi thấy tôi ít có nữ tính.
Trong nhà chị toàn đàn bà, và chị cũng toàn chơi với bạn gái?
Tôi gần mẹ hơn bố, sinh hai con gái, và đã hai lần chia tay chồng. Hiện giờ tôi có nhiều bạn gái thân làm cùng nghề văn nghệ, là Hương Thuỷ, Thanh Hà, Trúc Linh – Trúc Lam... trong đó Thanh Hà thân với tôi suốt 16 năm nay. Trong nhà tôi luôn có căn phòng trống để Hà có thể đến và ở lại bất kỳ lúc nào cô ấy muốn.
Các con gái của tôi cũng thân thiết với bé gái của Thanh Hà. Tính tôi thì giống đàn ông, nghĩ gì nói gì cũng thẳng tuột, và hầu như tôi không bao giờ biết khóc, trong khi Thanh Hà thì rất nhõng nhẽo. Chơi thân với nhau thì chúng tôi bổ sung ưu khuyết điểm cho nhau. Ví dụ tôi muốn mua một đôi giày đẹp, tôi phải nhấc phone hỏi ý Hà, Hà bảo ừ mua đi, đôi giày này Hà có cả trăm đôi rồi mang vẫn không chán, thì tôi sẽ mua (cười). Bù lại, Hà sẽ hỏi ý kiến tôi về cách ứng xử, đối đáp. Chẳng hạn có lần Hà bị một đồng nghiệp chê bai trên báo, Hà rất buồn và hỏi tôi nên làm gì. Tôi bảo Hà nên im lặng, vì người ta đang “chĩa” vào mình, chỉ cần mình “cựa quậy” là to chuyện. Và đúng là khi Hà im lặng, một thời gian sau thì mọi chuyện lại êm xuôi.
Chị có học hỏi Thanh Hà làm sao để nữ tính hơn để được đàn ông yêu hơn là sợ chị (như bây giờ)?
Đúng là quan sát Thanh Hà, tôi thấy cô ấy thật đáng yêu và cô ấy đã dạy tôi biết trở nên nữ tính hơn. Ngày trước, khi còn sống chung với Trịnh Hội, thỉnh thoảng chúng tôi có tranh cãi vài chuyện về quan điểm chính trị. Chẳng hạn như về luật tử hình có ở Mỹ nhưng không có ở một số nước khác. Anh ấy nhún vai bảo, thôi, đàn bà con gái, biết gì về chính trị mà nói... Tôi lẳng lặng khuân về đọc ngấu nghiến một chồng sách báo nói về bộ luật này, để vài ngày sau tôi lại ngồi xuống tranh cãi với anh ấy.
Nhưng đó là chuyện đã qua. Giờ nghĩ lại tôi thấy mình thật trẻ con. Tại sao lại phải tranh cãi với đàn ông của mình về những chuyện chẳng ăn nhập gì đến cuộc sống của hai đứa? Nếu bây giờ mà bạn trai tôi nói tôi là đàn bà ngốc, tôi sẽ mỉm cười chấp nhận vui vẻ. Ừ, thì em ngốc, nhưng mà sao nào? Miễn là chúng ta vẫn thích nhau. Tôi nghĩ tôi chỉ thực sự ngốc khi tôi tìm đủ mọi cách để thông minh hơn đàn ông.
BÀI VÀ ẢNH: LOANBB
 TRANG ĐIỂM: NHẬT BÌNH
 TRANG PHỤC: GIA PHẠM
Bài đăng trên SGTT Nguyệt san số tháng 5.2011, phát hành từ 2.5.2011 tại các sạp báo. Mời bạn đón đọc.
  
  

21/04 Về bản dịch thơ Hồ Xuân Hương của Giáo sư - nhà thơ J. Balaban


21-04-2011
GS MAI QUỐC LIÊN

Năm 2002, tôi nhận được thư của GS J. Balaban. Bức thư lời lẽ nhã nhặn, tình cảm nồng hậu của một GS người Mỹ mà tôi chưa hề được gặp, được làm quen; chứng tỏ một mối quan tâm đến văn hóa Việt Nam và những dự định tốt đẹp vun bồi cho nền văn hóa ấy bằng nhiều cách. Toàn văn bức thư dịch ra tiếng Việt như sau:

“Thưa Giáo sư Liên,

Đính kèm theo đây là bản dịch tập thơ Hồ Xuân Hương của tôi có nhan đề là Hương mùa xuân: Thơ Hồ Xuân Hương (NXB Copper Canyon, 2000). Vào tháng chạp năm 2000, tôi cũng đã gửi đến GS một bản sao của tập thơ này, nhưng tôi không dám chắc rằng, GS đã nhận được. Dầu vậy, ông Trần Văn Dĩnh bảo tôi nên gửi cho GS một bản khác. Tôi cũng đang gửi một bản sao quyển trọn bộ tiểu sử Hồ Chí Minh của tác giả William Duiker bằng thư riêng cho GS.

Trong thư gửi GS lần trước, tôi đã đề cập đến Quỹ Bảo tồn di sản chữ Nôm Việt Nam, do nhà ngôn ngữ học Ngô Thanh Nhàn, Kỹ sư máy tính Đỗ Bá Phước, và tôi khởi xướng sau khi vẫn tiếp tục hoàn chỉnh tập thơ Hương mùa xuân. Hiện chúng tôi cũng đang tiến hành in ấn một quyển từ điển đầu tiên về chữ Nôm - Quốc ngữ. Cả anh Nhàn và anh Phước sẽ có mặt tại Thành phố Hồ Chí Minh vào khoảng độ ngày 10 tháng 4, và tôi đã đề nghị họ nên đến gặp GS nếu thấy thuận tiện. Họ sẽ gặp TS Ngô Trung Việt, cộng sự tại Việt Nam của Quỹ chúng tôi, Tiến sĩ sẽ liên lạc với GS để sắp xếp cuộc hẹn.

Còn một vấn đề khác nữa, Virginia Jing-yi Shih là một trong những người chúng tôi đã tài trợ để nghiên cứu chữ Nôm ở Việt Nam, thông thạo cả Việt ngữ lẫn tiếng Trung, và cũng là người biết khá rõ về chữ Nôm. Cô Virginia là quản thủ thư viện nghiên cứu về Đông Nam Á của Đại học California - Berkeley. Cô ấy cũng đang quan tâm đến việc nghiên cứu và chuyển ngữ bộ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi. GS có nghĩ rằng, GS có thể giúp cô ấy về chữ Nôm trong công trình nghiên cứu đặc biệt này không? Trước đây, cô ấy cũng đã từng chuyển ngữ tập thơ của Nguyễn Trãi sang tiếng Trung Quốc. Nay, cô ấy muốn tiếp tục công trình nghiên cứu đó vào mùa hè này; và Quỹ của chúng tôi sẵn lòng bảo trợ các chi phí cho việc nghiên cứu của cô ấy. Nếu GS quan tâm đến việc này, xin vui lòng cho tôi biết qua địa chỉ điện thư: tbalaban@earthlink.net.

Ngoài ra, chúng tôi cũng có một website mới mà có thể GS sẽ quan tâm: www.nomfoundation.org. Qua thư này, xin kính chúc GS gặp nhiều tốt lành trong năm mới và hy vọng GS sẽ có một cuộc gặp thú vị với các giám đốc đồng nghiệp của tôi.

Trân trọng.
Chủ tịch, John Balaban
Đồng kính gửi: Trần Văn Dĩnh, Ngô Thanh Nhàn,
James Đỗ Bá Phước, Ngô Trung Việt”.


Bức thư GS. John Balaban gửi cho GS. Mai Quốc Liên.

Sau này, tôi đã gặp TS Ngô Trung Việt và TS Ngô Thành Nhàn, lúc đó là Phó chủ tịch Quỹ bảo tồn di sản chữ Nôm của GS J. Balaban. TS Nhàn đã hướng dẫn tôi đi thăm các Đại học Yale, Southern Connecticut, thăm New York nhân có cuộc Hội thảo châu Á ở Boston 2007, một chuyến viếng thăm để lại những ấn tượng tuyệt vời. TS Nhàn cũng vui lòng tham gia vào Hội Đồng Khoa Học của Trung tâm Nghiên cứu Quốc Học và vẫn giữ liên lạc thường xuyên với chúng tôi. Còn về Virginia Jing-yi Shih ở Đại học Berkeley (Mỹ) thì tôi cũng đã vui lòng giúp chị ấy qua những câu hỏi mà chị ấy đặt ra trong việc làm luận án về Nguyễn Trãi. Chị đã gửi tặng tôi bản luận án sau khi đã bảo vệ thành công, và chúng tôi cũng đã gặp nhau ở Hội thảo Boston.

Rất tiếc là cho đến nay, tôi vẫn chưa được gặp GS J. Balaban. Nghe ông có qua Hà Nội nhưng không vào Thành phố Hồ Chí Minh, và vì bận rộn công việc, nên sau bức thư đó, tôi cũng có lỗi là đã không giữ liên lạc trực tiếp thường xuyên.

Đọc bản dịch Hồ Xuân Hương của GS, tôi có trao đổi vài ý kiến khi gặp TS Ngô Thanh Nhàn. Tôi rất vui mừng là tập thơ dịch đã có tiếng vang lớn ở Hoa Kỳ: bán được 20.000 cuốn và khi Tổng thống Mỹ Clinton đến Việt Nam, trong diễn văn của ông, ông đã nhắc đến bản dịch này: “Các bài thơ 200 năm tuổi của nữ sĩ Hồ Xuân Hương được xuất bản ở Mỹ bằng tiếng Anh, tiếng Việt và cả nguyên bản chữ Nôm, đây là lần đầu tiên mà một bản thảo cổ của Việt Nam được đưa lên in ấn” (diễn văn của Tổng thống Clinton tại cuộc chiêu đãi của Chủ tịch nước Việt Nam tối 17/11/2000). Chúng tôi xin chân thành chúc mừng thành công đó của GS J. Balaban.

Sau đây, để cho những lần in lại sau này ở Mỹ (và từ Mỹ nó sẽ đi đến khắp thế giới, trước hết là đến với những người bạn của Việt Nam và những nhà nghiên cứu Việt Nam), bản dịch sẽ được hoàn thiện hơn, tôi xin góp một số ý kiến.

Trước hết, trong Dẫn nhập (Introduction). GS có nói rõ: “Tháng Hai năm 1999, tôi có đến Hà Nội để tham khảo với các học giả nhằm tìm và xác minh bản gốc bằng tiếng Nôm của những bài thơ trong tập sách này…

…Quyển sách này, tuyển tập khá tầm cỡ đầu tiên của thơ Hồ Xuân Hương bằng tiếng Anh, hầu như chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót về xuất xứ cũng như sai lạc thuần túy do việc làm của tôi, một người ngoại quốc, dù là thi sĩ, đang bơi trong dòng nước ngập lút đầu mặc dù được khích lệ bởi sự cổ vũ của người Việt Nam đứng ở trên bờ xa tít” (Spring essence, tr.14)


Bìa cuốn sách Hương mùa xuân: Thơ Hồ Xuân Hương (Spring essence -
The Poetry of Ho Xuan Huong).

Như vậy là GS - Nhà thơ J. Balaban đã làm việc rất cẩn trọng, như một nhà văn bản học chuyên nghiệp khi tiếp cận văn bản thơ Hồ Xuân Hương, đã thế ông còn sang cả Việt Nam để tham khảo ý kiến của các nhà nghiên cứu.

Nhưng mặc dù như vậy, không thể hiểu được vì sao trong văn bản Nôm in kèm theo và trong bản dịch, lại có những sai lầm sơ đẳng về phiên âm, và do đó đã làm lệch nghĩa câu thơ một cách hết sức đáng tiếc.

Trong bài Vịnh nữ vô âm (tr.38) có câu:

Điển nương dâu 娘妯 mà trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã viết là “trên Bộc trong dâu”: “Ra tuồng trên Bộc trong dâu/ Thì con người ấy ai cầu mà chi”, xuất tự thành ngữ “tang gian Bộc thượng”. Sách Hậu Hán thư Địa lý chí nói rằng, đất nước Vệ có chỗ kín trong tang gian (bãi trồng dâu) ở Bộc thượng (trên sông Bộc) là nơi trai gái tụ hội, do đó sau người ta dùng mấy chữ “Tang gian Bộc thượng” để chỉ thói dâm ô. Nguyễn Du dịch là trên Bộc trong dâu, bốn từ ấy đã thành thành ngữ” (Đào Duy Anh, Từ điển Truyện Kiều, H., Nxb Văn Hóa Thông Tin, 2000, tr.577).

Thế nhưng trong bản phiên âm này thì lại ghi là nàng dâu: “Trăm năm còn khỏi tiếng nàng dâu”; và dịch là: “Since her whole life she’ll never have to hear “daughter – in – law” (Bởi suốt đời này sẽ không bao giờ phải nghe tiếng “nàng dâu” – “daughter – in – law” trong tiếng Anh nghĩa là nàng dâu”.

Như vậy, vì phiên âm nhầm nương dâu thành nàng dâu mà câu thơ mất nghĩa.

- Bài Phận đàn bà (tr.72), có câu:

Tất tả những là thu với vén
Vội vàng nào những bống cùng bông
.

Tất tả 必左 chứ không phải là tất cả 必奇 như trong bản Nôm và bản phiên âm.

Tất tả ở câu trên đối xứng với vội vàng ở câu dưới.

Nhưng hai câu dịch ra tiếng Anh thì không theo cái sai của phiên âm:

Yet, everything must be put in order
Rushing around all helter - skelter.

(Lại còn mọi việc phải thu vén
Dồn dập xoay quanh bấn loạn cả lên).

- Bài Khóc ông Tổng Cóc: Nòng nọc nên phiên là đứt đuôi, 坦 đứt (loại chữ giả tá) x. Từ điển chữ Nôm, Nguyễn Quang Hồng chủ biên, tr.383, H., 2006), chứ phiên đất đuôi thì không có nghĩa gì. (bản tiếng Anh dịch đúng làthe tadpole’s los his tail. Con nòng nọc đã mất đuôi).

- Bài Bánh trôi nên phiên: Bảy nổi ba chìm với nước non chứ không phiênmấy - 買 - có thể phiên là mấy (nghĩa là vài, bao nhiêu; còn phiên là với (mới):“Một ao niễng niễng với đòng đong” (Nguyễn Trãi) x. Từ điển chữ Nôm, Sđd, tr.679).

- Bài Chơi hoa (tr.62) phiên: Đã trót chơi hoa phải 固 có trèo. Nên phiên đúng là cố.

Bài Vịnh chùa Quán Sứ, phiên:

Sáng banh không 空 kẻ khua tang mít
Trưa trật không
空 ai móc kẻ rêu.

nên đổi:

Sáng banh không kẻ khua tang mít
Trưa trật nào
芾 ai móc kẻ rêu.

Theo phép đối, không không thể đối lại là không.

- Bài Người bồ nhìn (tr.98):

Xét xoi trước mặt đôi vầng ngọc

Phải phiên là xét soi .

Trong một bản dịch, một vài sai sót về nghĩa đen như những vết sướt da rất dễ chữa, không làm hại bản dịch rất tài hoa. Tuy vậy, cần phải nhắc để khi tái bản có thể chỉnh lại cho toàn bích. Tôi nhắc lại là GS J. Balaban đã làm việc hết sức cẩn trọng, cẩn trọng đến mức tối đa, nhưng những người giúp đỡ ông có lẽ đã không có dịp soát lại bản phiên âm chăng?

*

Tuy đã rà soát các văn bản cổ nhất chép thơ Hồ Xuân Hương rất kỹ càng (trong đó có bản L'œuvre de la poétesse Vietnamienne Hồ Xuân Hương của Maurice Durand), việc chọn tuyển dịch thơ ở đây cũng không thể nói là đã mười phần tốt đẹp.

Có những bài thơ mà xét về mặt phong cách, mặt từ ngữ (dùng nhiều từ Hán Việt đài các, trang trọng, mờ nhòe khác với cách dùng từ Nôm thuần Việt, dân dã, cụ thể thường thấy của thơ Hồ Xuân Hương). Đó là hai “mỹ học” khác nhau, thậm chí đối lập nhau.


Mùa hè hây hẩy gió nồm đông/ Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng.
Tranh Bùi Xuân Phái.

Những bài như Cảnh thu: “Thánh thót tàu tiêu mấy hạt mưa/ Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ/ Xanh om cổ thụ tròn xoe tán/ Trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ…”; bài Đài khán xuân: “Ba hồi triêu mộ chuông gầm sóng/ Một vũng tang thương nước lộn trời”; bài Tức cảnh: “Còi mục thét lừng miền khoáng dã/ Lưới ngư giang gió bãi bình sa”, lâu nay nhiều học giả xếp vào thơ Bà Huyện Thanh Quan.

Bài Vịnh khách đáo gia, 4 câu đầu rất tầm thường, non nớt: “Nhện sa cá nhảy mấy hôm qua/ Uẩy uẩy hôm nay bác đến nhà/ Điếu thuốc quyến đàm mừng bác vậy/ Miếng trầu đỏ tuổi gọi chi là”, lại lọt vào các câu thơ lấy của Nguyễn Khuyến: “Ao sâu nước cả khôn tìm (chài) cá/ Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà”. Ngoài ra, còn khá nhiều bài non kém khác hoặc bị gán lầm cho Hồ Xuân Hương như: Vịnh dạy con trẻ, Vịnh lão nhàn cư, Vịnh đấu kỳ, Vịnh miêu (được gán cho Hồ Xuân Hương), Vịnh bồ nhìn (chính ra là của Lê Thánh Tông). Còn những bài ai cũng cho là của Hồ Xuân Hương như Thiếu nữ ngủ ngày, Cái quạt (II) (Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa), Trống thủng, Đá ông chồng… lại không được chọn dịch.

***

“Tôi đã gõ mãi vào những bản dịch này đến hơn 10 năm, thường bỏ dở nửa chừng, nhưng luôn quay trở lại. Sự kiên trì của tôi được giữ vững bởi sự ngưỡng mộ và kính sợ (tài năng Hồ Xuân Hương) mà tôi hy vọng độc giả cũng thể nghiệm như tôi: đối với cuộc đời thông minh mà cô đơn của Hồ Xuân Hương, đối với tài thơ tuyệt diệu, tính ngoan cường, tài châm biếm, lòng can đảm, sự hóm hỉnh khinh mạn và lòng trắc ẩn, lòng từ bi như một bồ tát của bà. Bà là một nhà thơ của thế giới, người có khả năng làm cho ta phải xúc động như đã từng làm xúc động người Việt Nam hai trăm năm nay” (Dẫn nhập, tr.14).

Nhiệt tình đó, tâm huyết đó, sự uyên bác đó cộng với sự thăng hoa của một tâm hồn thơ, đã làm cho GS J. Balaban có một bản dịch sáng tạo, chuyển tải tinh tế tứ thơ, từ ngữ… của nguyên tác (dĩ nhiên không bao giờ có ai, có bản dịch nào, dù là Nga, Pháp... lại có thể chuyển được cái nghĩa ngầm, nghĩa “một mà hai”, tục mà thanh, những cách nói lái (đá đeo, lộn lèo…, những tử vận…, và ta cũng không thể đòi hỏi điều đó. Trớ trêu thay, đó lại là cái độc đáo vô song, cái bản sắc tuyệt diệu của thơ Hồ Xuân Hương, cái tài “thi quỷ” của thiên tài Hồ Xuân Hương..). Chỉ ra một vài sơ sót nhỏ, chúng tôi mong rằng lần tái bản GS J. Balaban sẽ không khó khăn gì mấy để chỉnh lý bản dịch.

Hồ Xuân Hương là một hiện tượng phồn tạp, đa nghĩa, cả về mặt văn bản và mặt ý nghĩa của văn bản, mặt thế giới quan và thi pháp… Suy cho cùng, đúng như GS-TS N.I.Nikulin (Nga) đã viết: “Rõ ràng là cùng với thơ ca của bà, một hệ thống thẩm mỹ mới mẻ đã đi vào văn học Việt Nam” (Lịch sử văn học Việt Nam, tr. 628, bản dịch Trung tâm Nghiên cứu Quốc học và Nxb Văn Học, 2007) và “thơ Hồ Xuân Hương như một cú đột phá của nền văn hóa dân gian Việt Nam còn chưa được thừa nhận vào lĩnh vực văn học nghệ thuật đỉnh cao” (Văn học Việt Nam từ thời Trung cổ đến hiện đại – thế kỷ X-XIX, Nxb Khoa Học Moskva, 1977, tr.242).

Cái gốc, cái bản chất của Hồ Xuân Hương là văn hóa dân gian, và nó chịu sự chế ước của các tầng quan niệm, thi pháp, hình thức của mỹ học dân gian. J. Balaban đã nghiên cứu rất kỹ Hồ Xuân Hương, nhưng có rất nhiều, rất nhiều vấn đề về Hồ Xuân Hương mà giới nghiên cứu Việt Nam cũng còn đang tranh luận. Vì vậy, bản dịch Hồ Xuân Hương ra tiếng Anh được hoan nghênh ở Mỹ là một sự kiện văn hóa đáng khích lệ.

Nói lại cho rõ

Trong bài Về bản dịch thơ Hồ Xuân Hương của GS-Nhà thơ J. Balaban trênHồn Việt số 45 (tháng 4/2011) có câu: tôi đề nghị phiên âm câu cuối là… khỏi tiếng nương dâu và đã có dẫn giải. Cần nói thêm là: hầu hết các bản Nôm thơ Hồ Xuân Hương (xin xem: GS Kiều Thu Hoạch: Hồ Xuân Hương, trong: Các nữ tác gia Hán - Nôm Việt Nam, NXB Khoa Học Xã Hội, 2010, tr. 460-461) đều chép nương dâu 娘 橷 (bản khắc 1922, bản Hồ Xuân Hương thi sao, bản Tạp thảo tập, bản Xuân Hương thi vịnh…). Bản khắc năm 1914 ghi: làm dâu 爫 妯, tức làm nàng dâu, cô dâu(KTH chú, tr. 462, sđd). Nhưng bản GS J. Balaban viết: 娘妯 thì nên phiênnương dâu và hiểu theo điển đã dẫn (câu thơ mới “già nghĩa” và hóm hỉnh, trào tiếu).

Mai Quốc Liên


(*)

John Balaban, Spring Essence: The Poetry of Hồ Xuân Hương. Copper Canyon Press. Washington.

[Quay lại]
Gửi tin này qua e-mailIn trangPhản hồiĐầu trang

28/04 Bậc thầy thư pháp Vương Hy Chi và bài "Lan Đình tập tự"


28-04-2011
PHẠM THỊ HẢO

Đọc Truyện Kiều đến đoạn nàng Kiều bị Hoạn Thư hành hạ trước mặt Thúc Sinh để “xả ghen”, chắc ai cũng cảm thấy xót xa. Song đến chỗ cùng Thúc Sinh xem Kiều chép kinh, Hoạn Thư phải thán phục thốt lên thành lời:“Khen rằng bút pháp đã tinh/ So vào với Thiếp Lan Đình nào thua” thì chắc mọi người cũng có phần hả dạ.

Chỗ này Hoạn Thư đánh giá cao tài năng của đối thủ, không chỉ khen ở mức độ viết chữ đẹp mà khen sự tu dưỡng văn hóa không phải tầm thường, khen ở chỗ bút pháp tinh diệu có thể so với nghệ thuật thư pháp nổi tiếng của Vương Hy Chi - một bậc “Thánh thư” đời Tấn.

Trong các bản Kiều đều có chú thích điểm này, song chỉ nói rất sơ lược. Chúng tôi xin nêu lại những nét chính và bổ sung thêm đôi chút: Thiếp Lan Đìnhlà trang thiếp viết bài tản văn Lan Đình tập tự của Vương Hy Chi. Vương Hy Chi tự Dật Thiếu, hiệu Đạm Trai, sinh năm 321, mất năm 379 (?) đời Đông Tấn Trung Quốc. Ông là người ở Lang Nha, Lâm Triết (nay thuộc tỉnh Sơn Đông), xuất thân trong một gia đình quý tộc, cha và chú đều làm quan cao và giỏi thư pháp.

Vương Hy Chi từ nhỏ hiếu học, yêu văn chương, tính tình cương trực. Từng làm quan đến chức nội sử Cối Kê, song vì bất hòa với Thứ sử Dương Châu nên từ quan, sống định cư ở Sơn Âm cho đến khi qua đời.

Năm 12 tuổi, Vương Hy Chi được cha và chú dạy thư pháp, sau đó từng thụ nghiệp với các danh gia thư pháp như Vệ Thước, Trương Chi, Trọng Diêu. Sau ông đi chu du nhiều nơi, thu nạp những tinh anh nghệ thuật thư pháp của những người đi trước rồi tạo thành một bút pháp riêng vừa có nét cổ nhã truyền thống vừa có nét bay bướm tinh tế mới lạ.

Vương Hy Chi có nhiều tác phẩm thư pháp nổi tiếng. Ngoài Thiếp Lan Đìnhlà tiêu biểu nhất, còn có những bản thiếp như Nhạc Nghị luận, Hoàng Đình Kinh, Đông Phương Sóc họa tán, Khoái tuyết thời tình thiếp… và một số sách lý luận về thư pháp. Thư pháp Vương Hy Chi có ảnh hưởng lớn đến con cháu. Các con trai ông: Vương Huyền Chi, Vương Ngưng Chi, Vương Huy Chi, Vương Tháo Chi, Vương Hoán Chi, Vương Hiến Chi đều là các danh gia, trong đó Vương Hiến Chi nổi bật nhất, cùng với cha là Vương Hy Chi được đời tôn xưng là “Nhị vương”. Hy Chi được tôn là “Thư thánh” còn Hiến Chi là “Tiểu thánh”, liên tục được các đời sau hâm mộ và học tập.

Vương Hy Chi không chỉ là nhà thư pháp nổi danh mà còn là một nhà văn có nhiều tác phẩm được truyền tụng. Bài Lan Đình tập tự là một thiên tản văn có giá trị cao, được Từ điển văn học Trung Quốc (NXB Thượng Hải từ thư, 2000) đánh giá là “tuyệt bút”.


Một phần bản thư pháp Lan Đình tập tự của Vương Hy Chi
do Phùng Thừa Tố mô phỏng chép lại từ nguyên tích.

Bài văn được viết vào năm Vĩnh Hòa thứ 9 đời Tấn Mục Đế (tức năm 353 Tây lịch). Bấy giờ ở Lan Đình thuộc vùng Sơn Âm huyện Cối Kê có lễ hội Tu Hễ theo phong tục địa phương (lễ hội du chơi để xua tà cầu may), Vương Hy Chi cùng một số bạn bè tụ hội ở đây, cùng chơi trò thả rượu đọc thơ. Các bài thơ hoặc vịnh cảnh hoặc trữ tình của mọi người được chép lại thành tập gọi là Lan Đình thi tập và Vương Hy Chi được đề nghị viết bài Tự (tức bài Tựa) cho tập thơ đó. Bài Tự được cả hội tán thưởng không chỉ vì giá trị văn chương mà còn vì được chính tay tác giả chép ra với một bút pháp được xem là “tuyệt diệu vô song”. Nội dung bài được dịch nghĩa như sau:

“Năm Vĩnh Hòa thứ 9, tuế niên Quý Sửu, vừa vào lúc cuối xuân, bạn bè tụ hội cùng nhau nơi Lan Đình, vùng Sơn Âm huyện Cối Kê để dự lễ hội Tu Hễ. Các hiền hữu trẻ già đều đến. Nơi đây có non cao núi đẹp, cây rừng xanh tốt, trúc biếc vươn cao, lại thêm suối trong chảy xiết, lấp loáng in bóng đôi bờ. Theo dòng nước uốn lượn, có thể chơi trò thả rượu làm thơ, mọi người đều chia thứ bậc cùng ngồi.

Tuy không có tiếng đàn tiếng sáo, song một chén rượu, một lời ngâm, lòng cũng đủ vui mà giãi bày những tình cảm sâu xa chân thật. Ngày hôm đó, khí nhẹ trời trong, gió êm mát mẻ, ngẩng lên nhìn vũ trụ bao la, cúi xuống ngắm muôn loài tươi tốt, buông lòng cảm thụ, phóng thả tầm nhìn, cũng đủ tận hưởng sướng mắt sướng tai. Thật quả là vui.

Phàm người ta khi gặp gỡ nhau, thời gian thường là ngắn ngủi. Có người thu lượm điều chí thú, cất giữ trong lòng, rồi cùng bạn bè trong phòng đàm đạo. Có người lại ký thác ra ngoài rồi buông thả theo tháng ngày phóng lãng. Tuy nắm giữ hay xả bỏ mỗi người một khác, thư tĩnh hay nóng vội cũng chẳng giống nhau, song đều lấy làm vui. Nhận vào cho mình rồi tự mình thỏa nguyện, chẳng biết rằng tuổi già kia đang sắp tiến tới nơi.

Rồi đến lúc chán chường mệt mỏi, tâm tình theo sự vật đổi thay, dẫn đến chỗ lòng đầy cảm khái, những gì trước đây yêu thích, phút chốc bỗng thành thứ cũ xưa, rồi không thể không xúc động tâm tình. Huống chi tuổi thọ con người ngắn dài cũng đổi thay cùng với tự nhiên, rút cuộc rồi cũng đến hồi kết thúc. Người xưa từng nói: “Sống chết là chuyện lớn”, lẽ nào điều đó chẳng khiến đau lòng hay sao!

Mỗi khi xét đến nguyên do cảm hứng của người xưa, thấy dường như cùng mình tương hợp, thì thường hay vì văn chương mà bi thương cảm thán, trong lòng chẳng rõ vì sao. Vốn biết rằng xem chuyện tử sinh không khác gì nhau là điều hư ảo, đánh đồng Bành Tổ trường thọ với Thương sinh yểu mệnh là cách nghĩ xằng. Nhưng người đời sau nhìn về người đời nay cũng giống như người đời nay nhìn về người đời xưa, thật đáng buồn lắm thay!

Vậy nên, xin ghi rõ lại từng vị (cùng dự hội) và sao chép những lời thơ của họ, tuy khác thời, khác việc, song duyên cớ giãi lòng, thảy đều cùng giống như nhau. Người đời sau xem tới chắc cũng sẽ xúc cảm với những văn chương này chăng!"

Bài văn chữ Hán chỉ có 324 chữ, âm thanh hài hòa lưu loát du dương, người xưa nói rằng đọc lên thật “khoái trá nhân khẩu”. Nội dung miêu tả vẻ đẹp của sông núi xung quanh Lan Đình và tình cảm vui vẻ tụ hội, bộc lộ những xúc động trước thiên nhiên và những cảm khái về lẽ sinh tử vô thường của tác giả.

Bài văn vừa có vui vừa có buồn. Vui vì cảnh sắc đẹp tươi, vì bạn bè hội họp, song không phải vui về vật chất (không đàn sáo, không tiệc rượu… ) mà là vui tinh thần, vui triết lý. Còn buồn là tâm thái tự nhiên của con người trước sự biến đổi của tự nhiên, của muôn vật, của mệnh số con người. Buồn song vẫn là tích cực hướng thượng. Vẫn là thái độ điềm đạm, phong thái thung dung trước cuộc sống. Giọng văn ưu nhã, lời lẽ mượt mà thể hiện rõ thêm những điểm đó. Bài Lan Đình tập tự được lưu truyền lâu dài khi trở thành Thiếp Lan Đình.


Nguyên một phần tích bản Tang loạn thiếp của Vương Hy Chi.

Thiếp Lan Đình đặc biệt nổi danh về phương diện nghệ thuật thư pháp. Các nhà thư pháp có yêu cầu khi thưởng thức tác phẩm phải thư thái, phải tĩnh tâm và chú ý cảm thụ nét bút, thế bút, kết cấu toàn bài hình dạng từng chữ, thể thức biến hóa và tổng quan toàn bức.

Theo như thế thì Thiếp Lan Đình được viết thành 28 hàng chữ. Ngắm nhìn sẽ thấy nét bút mềm và mượt chỗ lớn, chỗ nhỏ cân đối. Thế bút chỗ cương chỗ nhu, hài hòa vui mắt, nhìn thẳng nhìn nghiêng đều đẹp. Kết cấu chỗ thưa chỗ mau, trông tề chỉnh mà lại bay bướm. Đặc biệt là sự biến hóa tự hình, toàn bài có 20 chữ 之 (chi) mỗi chữ viết một kiểu, 5 chữ 懷 (hoài), 7 chữ 不 (bất) đều không hề lặp lại dạng chữ. Các chữ 以 (dĩ) chữ 為 (vi) cũng vậy. Nhìn tổng quan, đây là một bức tranh có hồn, chữ viết như rồng bay phượng múa, toát ra một khí phách hào hùng, lại mềm mại uyển chuyển thể hiện một phong độ cao nhã phóng khoáng.

Những đánh giá trên đây là cảm nhận từ sự thưởng thức bản Thiếp Lan Đình hiện được lưu truyền. Các nhà nghiên cứu cho rằng, đây không phải là chân tích. Vì bản của Vương Hy Chi viết đã bị Đường Thái Tông do quá yêu thích, bắt cất giấu trong lăng mộ của mình. Bản hiện tồn là của Phùng Thừa Tố đời Đường mô phỏng chép lại được đương thời xem là giống nhất.

Đối với nguyên tích của Vương Hy Chi thì sự đánh giá của người xưa không thật cụ thể song còn cao hơn: Các thư gia nổi tiếng thời Nam Triều là Ngu Hòa, Đào Hoàng Cảnh cho rằng, thư pháp của Vương Hy Chi vượt hẳn các danh gia đời Hán Ngụy. Lương Vũ Đế thì khen: “Thế chữ hùng dật, như long khiêu thiên môn, hổ ngọa phượng khuyết…”. Đường Thái Tông thì bình: “Chữ chữ hàng hàng, bảng lảng như mây bay, kiêu dũng như rồng lượn (phiêu như vân phi, kiêu như long cổn)”, thật là một bức tranh “tận thiện, tận mỹ”, và khuyên các sĩ tử nên học tập.

Các thời đại sau cũng có nhiều ý kiến tán tụng Thiếp Lan Đình của Vương Hy Chi, xem đây là bức tranh thư pháp có giá trị nhất thời xưa.

Ở Trung Quốc hiện nay rất thích thú nghệ thuật thư pháp. Có nhiều nghiên cứu về Vương Hy Chi, về thân thế, chí hướng, tài năng, quá trình rèn luyện thư pháp của ông, ảnh hưởng của ông đối với các thời đại sau. Rồi vấn đề chân ngụy của bản Lan Đình tập tự, vấn đề thưởng thức đánh giá thư pháp. Có nhiều giai thoại lý thú về “Thư thánh” Vương Hy Chi và con trai ông - Vương Hiếu Chi, cũng là một nhà thư pháp nổi tiếng.

Ở ta, phong trào phát triển nghệ thuật thư pháp cũng đang rầm rộ. Thú chơi tao nhã này đang hấp dẫn giới trẻ. Thư pháp chữ Việt cũng đang phát triển phong phú, đa dạng. Đó là điều thật đáng vui.

[Quay lại]
Gửi tin này qua e-mailIn trangPhản hồiĐầu trang