Showing posts with label giapvan. Show all posts
Showing posts with label giapvan. Show all posts

Sunday, August 22, 2010

22/08 Công thức của thành công?

TP - Sự kiện GS Ngô Bảo Châu nhận được giải thưởng Fields quý giá đã làm nức lòng người Việt khắp nơi. Đó là thành công của một tài năng khoa học lớn. Đó cũng là sự khích lệ quí giá với những người Việt đang ước mơ vươn tới những đỉnh cao, không chỉ trong khoa học, mà trong mọi lĩnh vực của đời sống.

Vì thế, một sự suy ngẫm về công thức của thành công, nếu có, sẽ giúp ích cho việc định hướng những việc cần làm để đạt được sự thành công.

Nhiều nhà khoa học cho rằng, công thức của thành công là kết quả của phép nhân ba yếu tố như sau:

Thành công = Tài năng × Nỗ lực × May mắn

Như thế, những người thành công phải hội tụ được cả ba yếu tố nói trên. Nếu có một yếu tố bằng không thì phép nhân trên sẽ cho kết quả bằng không, bất kể các thừa số còn lại có giá trị lớn đến bao nhiêu đi chăng nữa.

Ví dụ, người có tài năng, có may mắn, nhưng không có nỗ lực - lười biếng chỉ nói không làm chẳng hạn - thì chắc chắn sẽ không thể thành công được.

Nhưng đó là ở những nước phát triển, khi cơ hội thành công là tương đối bình đẳng với tất cả mọi người. Ở đó môi trường, văn hóa, cơ chế làm việc đã phát triển đến mức tương đối hoàn thiện. Còn ở Việt Nam, công thức này có lẽ cần được điều chỉnh như sau:


Thành công = Tài năng × Nỗ lực × May mắn × Môi trường

Tư chất của người Việt không thua kém người nước ngoài. Người Việt có phẩm chất của tài năng. Người Việt lại có tiếng là chăm chỉ cần cù. Còn may mắn, thường là do ngẫu nhiên ngoài sự kiểm soát. Nên yếu tố cuối cùng - môi trường sống và làm việc - là yếu tố quan trọng nhất đến sự thành công của người Việt.

Nếu môi trường không tạo điều kiện cho tài năng phát triển, tác động của môi trường đến sự thành công bằng không (thậm chí âm trong nhiều trường hợp) thì tích số trên vẫn bằng không (hoặc âm). Dù tài năng đến mấy, nỗ lực đến mấy, may mắn đến mấy đi chăng nữa, một cá nhân không thể thành công được.

Điều này cho thấy, thay vì kêu gọi khuyến khích tài năng bằng cách này cách khác một cách ồn ào phản cảm, thì điều cần hơn hết hiện giờ là tạo môi trường cho tài năng phát triển.

Môi trường sống, môi trường làm việc, phải là bệ phóng của tài năng, chứ không phải là nơi kìm hãm và vùi dập tài năng được.

Nói thẳng ra, cơ chế làm việc hiện thời - nhất là của các cơ quan công quyền và học thuật hiện thời - cần phải thay đổi. Bằng không, việc tụt hậu so với thế giới là hệ quả hiển nhiên không cần bàn cãi.

Điều này lý giải tại sao những tài năng khoa học của Việt Nam lại thường chỉ thành công ở nước ngoài. Đơn giản là vì ở đó có môi trường làm việc tốt. Tài năng cá nhân có điều kiện nảy nở chứ không bị thui chột vì những cản trở của môi trường.

Điều này cũng giải thích tại sao, chính sách thu hút nhân tài triển khai ở rất nhiều tỉnh thành gần đây lại thất bại. Vì một lẽ, nhân tài không có môi trường làm việc.

Mà khi nhân tài đã không có môi trường làm việc thì những vế ngược lại - tức là những kẻ bất tài - sẽ thả sức tung hoành bằng nhiều mưu mô mẹo mực khác nhau. Điển hình nhất là việc dùng bằng giả và kéo bè kéo cánh, trù dập người tài.

Khi có môi trường tốt thì nhân tài sẽ tự động được nuôi dưỡng, khuyến khích. Người tài sẽ tự kéo đến. Còn không, dù có khản cổ kêu gọi, thì nhân tài có đến, sớm muộn gì nhân tài cũng sẽ đi.

Những mỹ từ như “ưu đãi”, “trải thảm đỏ”… khi đó sẽ chỉ là những lời sáo rỗng - thậm chí phản cảm, thiếu thành thật - mà thôi.

Vì thế, việc quan trọng nhất hiện giờ không phải là thu hút người tài, mà phải là tạo môi trường thuận lợi cho người tài làm việc; đảm bảo thu nhập và những nhu cầu tối thiểu cho người tài - nhất là những tài năng khoa học - chuyên tâm làm việc.

Làm được như thế, không chỉ tài năng có thể phát triển, mà những kẻ bất tài cũng không còn cớ đổ tại môi trường, tại cơ chế. Đúng là lợi cả đôi đường.

Điều còn lại nhức nhối, là biết rằng có lợi, nhưng vì sao cơ chế và môi trường làm việc vẫn không thay đổi? Vì sao sự cản trở vẫn nằm chặn đường hết năm này qua năm khác, thập kỉ này qua thập kỉ khác?

Câu trả lời xin dành cho những người có trách nhiệm và có thẩm quyền.

Giáp Văn Dương

Monday, July 5, 2010

05/07 Đừng tìm dây để tự trói mình

05/07/2010 11:34:45 


SV trường ĐH Vinh- Ảnh: Quỳnh Hoa
(SVVN)TS. Giáp Văn Dương trao đổi với SVVN về “mắt xích” giáo dục trong câu chuyện phát triển đất nước …

DÒNG CHẢY THỜI ĐẠI 
Trong một vài bài thuyết trình của mình, anh có nhắc đến câu chuyện nước Nhật. Bài học nào anh rút ra từ câu chuyện này?

Đúng là tôi có nhắc đến cuộc cải cách Duy Tân Minh Trị ở Nhật, với vai trò đặc biệt của Fukuzawa Yukichi. Bởi vì, cùng thời điểm này, ở Việt Nam, Nguyễn Trường Tộ cũng đã gửi lên triều đình Huế những bản tấu trình đề xuất cải cách đất nước. Tôi biết, mọi so sánh đều khập khiễng, do hoàn cảnh lịch sử, xã hội ở Nhật thời cải cách Duy Tân Minh Trị và ở Việt Nam lúc bấy giờ không hoàn toàn giống nhau.

Tuy nhiên, tôi cũng biết, nhờ so sánh mà có thể rút ra những bài học đáng suy ngẫm. Bài học ở đây là: Yukichi, sau khi tiếp thu văn minh phương Tây, đã dành phần lớn thời gian để dạy học, dịch sách, viết sách truyền bá tư tưởng cải cách, đổi mới. Còn Nguyễn Trường Tộ sau khi tiếp thu nền văn minh phương Tây thì viết các bản tấu trình gửi lên triều đình đề nghị canh tân đất nước. Khi triều đình không đồng ý bản này, ông viết bản khác, liên tục cho đến khi mất, dù những bản tấu trình đó không được sử dụng. Như vậy, có một điểm khác biệt lớn giữa 2 nhà cải cách này: Yukichi hoạt động như một trí thức độc lập, còn Nguyễn Trường Tộ như một trí thức cận thần. Chính điều này đã làm nên sự khác biệt cơ bản giữa hai ông. Cũng là điều mà những người đi sau cần suy ngẫm.

Trường hợp nước Nhật, khi nội bộ nước này xảy ra đấu đá và nội chiến, đe dọa đến sự thành công của cuộc cải cách, trường Đại học KeiM-gijuku (*), do Yukichi lập nên, lúc này chỉ còn 18 sinh viên. Nhưng Yukichi đã nói với sinh viên của mình rằng: “Chừng nào ngôi trường này còn đứng vững, Nhật Bản vẫn sẽ là quốc gia văn minh trên thế giới”.

Giap_Van_Duong.jpg
TS Giáp Văn Dương
Nghĩa là, theo anh, cần có sự độc lập tương đối của trí thức để những đề xuất cải cách không chịu sự chi phối của yếu tố chủ quan?
Đúng vậy. Trí thức nên là những người độc lập, ở mức độ càng cao càng tốt. Nhiều trí thức nghĩ rằng tham gia vào chính sự sẽ giúp họ thay đổi, cải cách đất nước nhanh hơn. Tuy nhiên, đó là cách xây nhà từ nóc chứ không phải từ móng và mang tính cầu may. Vì việc chính sự thường quan tâm đến những mục tiêu ngắn hạn, tức thời trong hiện tại, trong “nhiệm kỳ này”, chứ ít khi hướng đến những mục tiêu dài hạn, đích đến của những cuộc cải cách lớn.
Một đất nước muốn phát triển thì dân trí, hạ tầng tư duy, hạ tầng con người phải tốt. Nếu như chỉ chọn những giải pháp tình thế, ăn ngay mà không tập trung nâng cao dân trí, đổi mới tư duy thì mọi giải pháp, xét về dài hạn đều sẽ thất bại.

HẠ TẦNG TƯ DUY

Theo anh, điều gì là quan trọng nhất đối với sự phát triển của Việt Nam hiện nay?
Đó là vốn con người. Nhắc đến vốn thường làm người ta nghĩ ngay đến tiền. Cũng như nhắc đến cơ sở hạ tầng kinh tế là người ta nghĩ ngay đến đường sá, cầu cống, v.v. Nhưng trên thực tế, tài nguyên trí tuệ mới là tài nguyên quan trọng nhất. Và hạ tầng tư duy quan trọng hơn hạ tầng kinh tế truyền thống.

Anh có thể nói qua về một khái niệm, khá mới, “hạ tầng tư duy”?
Hạ tầng tư duy là toàn bộ những gì góp phần khai mở, hỗ trợ, giải phóng và phát huy khả năng tư duy của cá nhân và cộng đồng. Trong các yếu tố tạo nên hạ tầng tư duy, thì có ba yếu tố quan trọng nhất là: [1] thành tựu tư tưởng của nhân loại, [2] hệ tư tưởng/quan điểm được sử dụng; và [3] tự do học thuật. Vì thế, muốn cải tạo hạ tầng tư duy thì phải tiếp thu càng nhiều thành tựu của nhân loại càng tốt, điều chỉnh nếu nó đã lạc hậu và khuyến khích, tạo điều kiện cho tự do học thuật, tự do phản biện

Vậy theo anh, trong việc phát triển hạ tầng tư duy một quốc gia, các vựa tư duy (think-tank) đóng vai trò thế nào?
TS. Giáp Văn Dương: Think-tank là nơi đưa ra những lời khuyên với chất lượng chuyên môn cao cho những nhà hoạch định và thi hành chính sách. Think-tank cũng giúp thu thập và xử lý tri thức rồi lan tỏa ra toàn xã hội. Như vậy, nó làm cho những tri thức có chất lượng được lưu thông, kết nối tạo dựng thành mạng lưới. Ở ta cũng có nhiều các think-tank, nhưng đa phần không hoàn thành vai trò của mình, vì không giữ được vị trí độc lập và đơn thuần là một cơ sở chuyên môn để đưa ra những đánh giá khách quan. Ở các nước phát triển, Nhà nước phải dựa vào rất nhiều think-tank, thậm chí một chính trị gia cũng có thể dựa vào bộ phận này để có thể đưa ra một chính sách, hoặc nhỏ hơn, là một ứng xử đúng đắn.
Do phân công lao động và sự phức tạp của xã hội hiện đại, con người tư duy, lãnh đạo, thừa hành và kiểm tra nên tách bạch. Không nhất thiết nhà lãnh đạo phải ôm đồm làm cả bốn việc trên. Tuy nhiên, sự ôm đồm này lại thường thấy ở Việt Nam.

Theo anh, những nước sử dụng thành công trí thức vào phát triển kinh tế có đặc điểm gì?
Họ tôn trọng trí thức. Không độc đoán, mà đối thoại thay vì độc thoại. Họ xác định đi tìm sự đồng thuận chỉ có qua con đường đối thoại, chứ không thể bằng con đường áp đặt.

MẮT XÍCH GIÁO DỤC

Quay lại câu chuyện nước Nhật, khi nhận ra điểm yếu của mình, họ đã làm gì?
Người Nhật lúc đó xác định: dân trí và văn hóa là những mắt xích quan trọng nhất cần thay đổi để phát triển đất nước. Do đó, họ bắt đầu thay đổi giáo dục: kiên quyết từ bỏ lối học tầm chương trích cú, học chỉ để làm quan. Họ đã chuyển sang lối học để làm việc, để mở mang hiểu biết, tiếp thu và hội nhập với văn minh nhân loại. Nghĩa là họ tập trung nâng cao dân trí và chất lượng người dân. Họ không tự cô lập mình về mặt tư tưởng. Quan trọng hơn, họ chủ động gia nhập dòng chảy của thời đại.
Còn chúng ta, đã có nhiều thời điểm chúng ta nhìn thấy những dòng chảy của thời đại. Nhưng nhiều lần, hoặc chúng ta từ chối, hoặc chúng ta lỡ nhịp. Đến khi nhận ra thì đã chậm mất rồi. Lý do có nhiều, song chúng ta chưa quyết đoán để bước vào.

Rõ ràng, ở ta, cũng đã xác định “giáo dục là quốc sách hàng đầu”, nhưng loay hoay mãi mà chất lượng giáo dục vẫn chưa được đánh giá cao. Góc nhìn của anh về chuyện này là gì?
Cải cách giáo dục phải theo hướng thực chất, học để hành, để làm việc, để mở mang hiểu biết chứ không phải để có bằng cấp… Ở ta, cải cách giáo dục chưa thành công vì cải cách nửa vời, vì cản trở từ chính hệ thống giáo dục, và sâu hơn là từ văn hóa, từ cơ cấu kinh tế và hệ thống công quyền. Phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, người Việt ta rất thích bằng cấp.
Về mặt văn hóa: Ngày xưa học để làm quan thì nay học để có bằng. Dù tốt nghiệp đại học nhưng chỉ để làm công việc (nhẽ ra) của người tốt nghiệp trung cấp dạy nghề. Nhưng nhất định phải cố kiếm được mảnh bằng đại học mới an lòng.
Về mặt kinh tế: Các công ty, cơ quan Nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế -xã hội, bộ máy hành chính cồng kềnh, nhưng tiêu chuẩn để lựa chọn cán bộ công chức còn nhiều bất hợp lý. Đây chính là mảnh đất tốt để tiêu cực chen chân. Điều đó dẫn đến việc nếu có một tấm bằng, dù là bằng giả, người ta vẫn có thể chui vào làm việc trong hệ thống, bằng cách này hoặc cách khác. Nói cách khác, bằng cấp, kể cả bằng giả, vẫn còn đất sống, nên người ta vẫn có nhu cầu.
Thêm nữa, xung đột lợi ích, tư duy nhiệm kỳ, tầm nhìn hạn hẹp, bệnh thành tích – phong trào… cũng là những vấn đề đang còn phải khắc phục.

Vậy theo anh, lối đi nào là phù hợp cho giáo dục đại học ở ta?
Giáo dục Đại học của ta thực sự đang có rất nhiều vấn đề. Ở đây tôi chỉ bàn đến một vấn đề, là: nhiều người đổ lỗi cho việc cải cách giáo dục thất bại vì chưa có triết lý giáo dục đúng dẫn dắt. Nhưng thực ra, cải cách đi vào vòng luẩn quẩn cũng vì ta cứ cố tìm cái triết lý giáo dục vô hình kia để bám vào. Lẽ ra, ta cần tính đến chuyện mở ra những đại lộ lớn cho giáo dục đại học dấn bước. Những đại lộ đó chính là những định hướng lớn cho việc cải cách hệ thống, mà theo tôi, đó là: Mở, Sáng tạo, Toàn diện, Hiện đại và Hội nhập.
Mở về nội dung, về chương trình, về cơ cấu để mọi thành phần đều có thể tham gia và thụ hưởng giáo dục, và tri thức mới có cơ hội được truyền tải; Sáng tạo là yếu tố, phẩm chất quan trọng nhất mà nền giáo dục cần hướng tới; Toàn diện về loại hình và nội dung giáo dục; Hiện đại về tri thức giảng dạy; và Hội nhập để liên thông và hội tụ cùng những chuẩn của giáo dục thế giới. Tại sao chúng ta không thiết kế và cải cách hệ thống theo những định hướng đó, mà lại đi tìm một sợi dây mang tên “triết lý giáo dục” để tự buộc mình. Ai biết được hình thù của sợi dây đó thế nào, và tồn tại được bao lâu thì lạc hậu!?

Xin cảm ơn anh!
-------------
(*) Keiò-gijuku là trường đại học tư thục hiện đại đầu tiên và hiện nay vẫn là một trong những trường đại học tư lớn, có chất lượng giáo dục uy tín hàng đầu của Nhật Bản.

TS Giáp Văn Dương: Tốt nghiệp Tiến sĩ Vật lý tại Đại học Công nghệ Viên (Áo) năm 2006. Đã từng làm việc tại Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Công nghệ Viên (Áo), Đại học Liverpool (Anh).

Lê Ngọc Sơn (thực hiện)

Saturday, June 5, 2010

05/06 Dân chủ và hiền tài

(Bản thảo bài đăng trên tạp chí Tia Sáng số ra ngày 5/6/2010)
Giáp Văn Dương
Mở rộng dân chủ để lựa chọn và trọng dụng hiền tài sẽ là chìa khóa để Việt Nam phát triển thành công trong thời đại mới.
Không xa lạ
Nước Việt Nam, khi mới thành lập có tên là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Điều đó cho thấy, dân chủ không phải là một sự xa lạ hay mục tiêu xa vời đối với người Việt Nam.
Câu đầu tiên trong bản tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 là: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng”. Bình đẳng không chỉ giới hạn trong “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”, mà còn bình đẳng về nghĩa vụ và trách nhiệm đối với đất nước.
Trong việc thu hút người tài, lựa chọn lãnh đạo cho đất nước, thì bình đẳng chính là dân chủ trong công tác cán bộ, một mục tiêu mà Việt Nam đang hướng tới.
Bình đẳng và dân chủ vì thế là một cặp giá trị song sinh không thể tách rời, cái này làm tiền đề và cơ sở cho sự tồn tại của cái kia. Đó là lý do vì sao, khi lập nước, Việt Nam có tên là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì trong bản tuyên ngôn độc lập, bình đẳng đuợc nhấn mạnh và đưa ra trước hết.
Người Việt Nam đã tiếp xúc với dân chủ và bình đẳng từ khi mới lập nước nên không hề xa lạ với hai giá trị này. Việc cần làm hiện giờ chỉ là mở rộng, củng cố, tăng cường để dân chủ và bình đẳng có những nội dung thực chất, đi vào đời sống, chứ không phải đơn thuần là những giá trị hình thức chỉ tồn tại trên văn bản.
Nguyên khí quốc gia
Trên bia đá ở Văn Miếu có khắc một câu nổi tiếng của tế tửu Quốc tử giám Thân Nhân Trung, bao đời nay vẫn được coi là căn cội cho việc hưng bang trị quốc: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì nước mạnh và ngày càng lớn, nguyên khí suy thì nước yếu và ngày càng xuống cấp” .
Nhưng hiền tài xuất lộ làm sao khi không có cơ chế dân chủ để tuyển lựa? Nếu được tuyển lựa được rồi mà không có dân chủ thì hiền tài làm sao thi thố tài năng? Chưa kể trong thời hiện đại, hiền tài không chỉ cần làu thông kinh sử, biết phép làm quan, mà còn phải đương đầu biết bao nhiêu việc lớn bé trong ngoài, phức tạp gấp nhiều lần ngày truớc. Tri thức cần có của hiền tài ngày nay cũng không chỉ còn là Tứ thư Ngũ kinh mà là cả bể kiến thức về khoa học, quản lý, kĩ nghệ... của nhân loại. Những tri thức này lại được cập nhật và điều chỉnh không ngừng, nên không thể có một cá nhân nào có thể giỏi hết tất cả mọi lĩnh vực. Thời cuộc lại phức tạp và biến động từng ngày. Giao lưu quan hệ không chỉ còn với những nước láng giềng như trước mà đã mở rộng ra khắp toàn cầu. Trong hoàn cảnh đó, dân chủ để lựa chọn một đội ngũ hiền tài đa lĩnh vực, phục vụ cho công cuộc phát triển trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Dân chủ không chỉ dọn đường cho hiền tài xuất hiện, mà còn là môi trường để hiền tài phát huy tài năng, sở trường của mình. Không có dân chủ, hiền tài dù có được để mắt tới thì cũng bị bó chân bó tay, trở nên vô dụng.
Dân chủ và hiền tài vì thế luôn phải đi liền với nhau. Thiếu một trong hai yếu tố này, đất nước khó lòng phát triển. Vì lẽ đó, nhận định của người xưa về hiền tài cần được bổ sung thêm một vế tương ứng về dân chủ cho thuận thời đại: Dân chủ là nguyên khí quốc gia. Nguyên khí cường thì nước thịnh, nguyên khí nhược thì nước suy.
Dân chủ và hiền tài là hai luồng nguyên khí quan trọng nhất của đất nước, hòa quyện vào nhau, củng cố và nâng đỡ cho nhau. Nếu biết cách bồi đắp hai luồng nguyên khí này cho cường thịnh thì đất nước nhất định sẽ phát triển vượt bậc.
Nói cách khác, mở rộng dân chủ để lựa chọn và trọng dụng hiền tài sẽ là chìa khóa để Việt Nam phát triển thành công trong thời đại mới.



Tuesday, May 26, 2009

Đại Vệ văn minh chí dị (4)



Giáp Văn
Lại kể, chuyện bên nước Vệ diễn biến thế nào, bô lão và sĩ phu nước Vệ phản ứng ra sao, đều được nhất nhất báo về triều đình Tề quốc. Tề Bá Vương là Đào thấy vậy, mới họp quần thần lại phán rằng:
-Diệu kế tiêu diệt văn minh nước Vệ của ta có nguy cơ bị đám bô lão và sĩ phu bên đó phá hỏng. Vậy các ngươi có kế gì hay?
Rồi không chờ quần thần lên tiếng, Tề Bá Vương nói tiếp:
-Người nước Vệ ngoan cố kiên cường. Điều này ta đã dự liệu. Nhưng phá hỏng diệu kế của ta thì thật là quá lắm! Nhân tình hình nước Vệ đang căng như sợi dây đàn, ta kéo thêm một đầu nữa, nhất định đàn sẽ đứt.
Tể tướng nước Tề là Bảo, thấy vậy mới tâu rằng:
-Tin tức báo về cho thấy, tình hình nước Vệ ngày càng phức tạp. Dù triều đình nước Vệ đã cố công ngăn cản, nhưng đám bô lão và sĩ phu cũng không lùi bước. Đến nay đã ba lần dâng biểu, lại lôi kéo thêm vài nghìn người điểm chỉ kí tên, xem ra đại sự có thể bất thành.
-Vậy ngươi có kế gì hay, mau nói ta nghe!
Tề Bá Vương sốt ruột như có lửa đốt trong lòng. Thấy vậy, Bảo liền tâu tiếp:
-Muôn tâu! Thần đội ơn cất nhắc của bệ hạ nên ngày đêm suy nghĩ. Biết bệ hạ lo lắng chuyện thu phục nước Vệ, thần cũng ăn ngủ không ngon. Đêm qua thần đã nghĩ ra thập lục kế liên hoàn.
-Mau nói ta nghe!
Tề Bá Vương sốt ruột gắt. Bảo thấy vậy, liền hắng giọng tâu:
- Thần đọc Tôn Tử binh pháp thì thấy dạy rằng: “Việc binh là trá ngụy, có thể mà làm ra vẻ không có thể, dùng đấy mà tỏ ra không dùng, gần giả làm như xa, xa giả làm như gần. Lấy lợi mà dụ, gây rối mà đuổi, thấy khỏe thì tránh. Đầu tiên là làm mọi cách giảm nhược lực đối phương, sau rồi mới tiến hành dự định”.
-Nay tình hình nước Vệ như nồi nước sôi trên bếp, nên trước hết phải dùng kế Phủ để trừu tân, rút củi đáy nồi cho tình hình dịu xuống. Sau đó là Dục cầm cố tung, muốn bắt lại thả. Chuyện cao nguyên nước Vệ nhất định phải lấy, nhưng bệ hạ cứ xúi triều đình nước Vệ nói vống lên rằng, chuyện khai mỏ cao nguyên không liên quan gì đến nước Tề ta. Mấy vạn Tề phu ở đó cũng chỉ là hạng làm thuê, nước Vệ muốn đuổi khi nào thì đuổi. Chuyện lớn ta làm thành nhỏ, chuyện nhỏ thành không có gì. Không có gì mà lại có gì, muôn tâu!
-Hay!
Tề Bá Vương hứng chí vỗ đồi đánh đét một cái. Thấy vậy, Bảo biết mình đã nói trúng ý Đào Vương nên hớn hở tâu tiếp:
-Nước Vệ có cái biển Đông Hải, chiến lược hiểm yếu còn hơn cả cái cao nguyên khai mỏ. Nay theo ý Đại Vương ta kéo hai đầu, thì đám bô lão và sĩ phu nước Vệ lại ngỏng ra đấy cả. Như vậy là Điệu hổ ly sơn.
-Ta lại đi dây, Dương đông kích tây, hết cao nguyên lại sang Đông Hải, dân chúng nước Vệ như kiến vỡ đàn, cứ gọi là chạy theo rạc cẳng. Rồi nhân lúc tình hình nước Vệ rối ren, ta dùng kế Sấn hỏa đả kiếp, thừa cơ cháy nhà mà vơ vét làm khó nước Vệ.
-Quá hay!
Tề bá Vương không kìm được lòng, lại vỗ đùi đánh đét thêm một lần nữa, rồi giục:
-Nói tiếp ta nghe!
Bảo thấy vậy càng thêm tin tưởng, lấy hơi tâu liền một mạch:
-Cái biển Đông Hải này vốn là của tổ tiên nước Vệ từ mấy nghìn năm về trước. Ngày mới lập quốc, biết được vị thế hiểm yếu chiến lược, Lạc Long Quân là thủy tổ nước Vệ đã cắn răng xa vợ xa con ra biển canh giữ. Nay ta nhân tình hình nước Vệ rối ren mà Vô trung sinh hữu, biến không thành có, không chỉ cao nguyên mà thêm Đông Hải. Bệ hạ phen này Nhất tiễn hạ song điêu!
Tề Bá Vương nghe đến đây thì kích động cùng cực, nhổm hẳn dậy, giơ tay lên định vỗ đùi đánh đét một lần nữa, nhưng sau kịp định thần, nhíu mày suy nghĩ, nói:
-Điều này thì tiên đế đã theo đuổi suốt mấy trăm năm. Còn ta lúc nào cũng canh cánh trong lòng. Nhưng biến không thành có thật không phải dễ. Của người ta do tổ tiên truyền lại suốt mấy nghìn năm, ta không thể chốc lát mà mang thẳng về nhà.
Bảo như đã chuẩn bị sẵn, tâu ngay lập tức:
-Người xưa đã dạy Phản khách vi chủ. Ta nay là khách, nhưng Cầm tặc cầm vương nắm được triều đình nước Vệ, lại biết khuấy cho tình hình nước Vệ rối tung lên, rồi Tiên lễ hậu binh vừa đánh vừa xoa. Bệ hạ lại làm như Vệ-Tề đang thân thiết, núi liền núi sông liền sông, môi hở răng lạnh, lúc nào cũng an ủi vỗ về, rồi chờ cơ hội Ban trư ngật hổ, Ám độ trần thương thì lo gì đại sự lại không thành!
Tề Bá Vương thấy vậy mỉm cười. Tuy đã hết băn khoăn nhưng vẫn chưa yên lòng, nên lại bóp trán suy nghĩ, hồi lâu mới nói:
-Dân nước Vệ ngoan cố kiên cường, ngươi biết chứ?
Bảo thấy vậy, liền đáp:
-Muôn tâu! Dân nước Vệ đúng là ngoan cố kiên cường. Nhưng nay nước Vệ khốn khó như người dưới giếng, ta lại ném đá vào thì sao có thể ngoi lên. Mấy năm nay nước Tề ta liên tục cho mua móng trâu móng bò, mua ếch, rắn, mèo nên thất bát mất mùa, dân tình đói kém. Dân chúng lại tinh thần bạc nhược vì suốt ngày mải xem phim ảnh của nước Tề ta. Đám bô lão sĩ phu cũng đã mệt mỏi với chuyện khai mỏ cao nguyên. Còn ta thì Dĩ dật đãi lao, lo gì thưa bệ hạ!
-Vậy ngươi tính cụ thể thế nào?
Tề Bá Vương cười vui ra mặt. Bảo thấy vậy liền dõng dạc tâu tiếp:
-Trước mắt bệ hạ xúi triều đình nước Vệ vay tiền nước Tề ta, tiếp tục khai mỏ cao nguyên để ôm cái nợ vào thân. Sau lại cho mấy chiến thuyền ra Đông Hải, cớ rằng hóng mát dạo chơi, trông nom hải đảo giúp người nước Vệ, nhưng thực chất là để Thuận tay dắt dê. Chờ khi người nước Vệ sơ ý thì chiếm luôn Đông Hải. Đám sĩ phu nước Vệ thấy chiến thuyền của ta lượn lờ ở đó thì nhất định lại hét toáng lên. Ta nhân cơ hội đó mà xúi triều đình nước Vệ vay tiền của ta mua sắm tàu thuyền để trấn an dân chúng. Khi triều đình nước Vệ đã thành con nợ của ta rồi, thì nói gì họ chẳng phải nghe.
-Tiếp đến lại chơi trò Ném ngói đòi ngọc, thả con săn sắt mà bắt cá rồng. Mấy năm vừa rồi, nhờ tài nhìn xa trông rộng, bệ hạ đã cho tích trữ bạc vàng chất đầy ngân khố. Nay đã đến lúc cần dùng, bệ hạ hãy cho xuất thêm năm trăm cân vàng nữa để bôi trơn triều đình Vệ quốc. Lại ném ra một ít cho đám quan lại, mõ làng và mấy tay ngụy sĩ phu tham danh hám của. Đám này sẽ phụ họa rao toáng lên rằng nước Tề ta vô cùng thân thiện, đề phòng người Tề chỉ là chuyện con trẻ thừa cơm.
-Riêng triều đình nước Vệ, bệ hạ đã bôi trơn đến đầu đến đũa, lại ban cho mười sáu chữ vàng để bịt mắt dân chúng. Thì nay tiếc gì chẳng cho thêm mười sáu chữ nữa, mà nếu cần thì mười sáu vạn chữ cũng chẳng sao, miễn là thu phục được người nước Vệ.
-Diệu kế! Quả là diệu kế!
Đào Vương phấn khích tột độ, bật hẳn dậy, ngửa mặt cười ha hả, rồi vỗ đánh chát vào cạnh ngai vàng, quát lớn:
-Bay đâu! Y kế thi hành!
Quần thần nước Tề dạ ran rồi lui ra cắt cử việc điều chiến thuyền ra Đông Hải, tìm người viết chữ, xuất tiền xuất vàng mang sang nước Vệ.

Đại Vệ văn minh chí dị (3)



Giáp Văn
Lại kể, sau khi nhận biểu nhà mõ đưa lên, Vệ Vương cùng Tể tướng mất ăn mất ngủ. Làm Vương làm Tướng, chữ tín phải đội lên đầu. Đã nhận lời với người Tề, lại ký kết hiệp ước liên minh tương hỗ, thì làm sao thoái thác được đây. Ngộ nhỡ sau này có biến, thì ai trông ai giúp.
Có kẻ đa mưu túc trí, tên gọi Tôn Dưa, mới hiến kế rằng:
-Để xảy ra cơ sự này, tội đầu là tội cái thư của tay võ tướng. Sau đấy là bọn mõ làng tiếp tay phổ biến lung tung. Nay thu hồi cấm tiệt, bịt mồm bịt miệng, thì triều đình làm gì nghĩ, dân tình ai biết đấy là đâu.
Triều đình nước Vệ cho rằng chí lý, nên soạn chiếu ban ra: “Từ nay trở đi, những gì là chưởng tru lớn của đình triều, thì cấm bàn cấm đưa tin cấm trình lên Vụ quốc. Quần thần nước Vệ toàn những tay anh kiệt trị giá triệu đô, sẽ lo hết tính hết lên kế hoạch hết, dân chúng không phải nhọc lòng. Ai vi phạm sẽ xử theo luật đình triều nước Vệ”.
Dân Vệ thấy vậy sợ xanh mắt. Những tay có chút máu mặt thì thậm thụt bàn tán với nhau. Bàn rằng:
-Khai mỏ lần này là cầm chắc cái lỗ trong tay. Nhớ lại mươi năm về trước, phủ phủ vay tiền mua lò kéo mật của nước Tề, chưa được nửa năm thì vứt không bỏ đấy, mới thấy dân lỗ thì mặc kệ dân, chứ nhà quan đâu cần biết tới...
Có kẻ thạo tin lại nói thêm vào:
-Luật bất thành văn, mỗi khi mua sắm bằng tiền công khố, mười phần trăm bỏ túi nhà quan. Nên dân lỗ thì có thể, chứ nhà quan có lỗ bao giờ. Cùng lắm, lại bắt dân đóng thuế...
Có kẻ suy nghĩ sâu xa hơn chuyện đồng tiền nén bạc, than rằng:
-Nay nước Tề mang người mang của sang đây, lại lưu trú tại vùng hiểm yếu. Người Vệ ta duy cảm duy tình, thật thà như đếm, ngộ nhỡ có biến, thì làm sao đấu được với người Tề mưu mô xảo quyệt, nghìn năm phá quách đánh thành...
Có kẻ đi xa mở mang hiểu biết, cũng góp chuyện bàn thêm:
-Xưa nay người Tề đi đến đâu là văn hóa Tề đi theo đến đó. Sở dĩ cái nước Ít-xờ-ren nghìn năm phiêu bạt mà không bị diệt là nhờ giữ được văn hóa. Nay triều đình tiếp tay cho Tề quốc tàn sát văn minh thì nước Vệ ta sắp nguy rồi...
Kẻ thông thạo sử sách cũng thầm thì góp chuyện:
-Nước Tề ngày càng phình to, nay người Tề lại nói rằng bản đồ nước Tề hình con gà trống, mà nước Vệ ta là cái chân của nó...
Rồi lại có kẻ trầm ngâm, ra chiều hồi tưởng chuyện xưa:
-Nhớ ngày nào Đào Vương sang Vệ quốc, tiếng là sang chơi mà thực chất vi hành. Nhà cao cửa rộng không ở, nước nóng khách sạn không tắm, giữa hôm trời lạnh, lại giở trò xuống Đông Hải tắm chơi. Xem thế đủ biết, ý tứ rằng đây ao ta thì ta tắm...
Lại có kẻ thông thuộc sử sách bên Tây thuận miệng đế thêm:
-Bóc đất khai mỏ chẳng qua là kế ngựa gỗ thành Troy. Việc này đến trẻ con cũng biết. Triều đình Vệ quốc toàn tay anh kiệt trị giá triệu đô, sao lại không nhìn ra cơ chứ...
Cũng có kẻ giật mình nghĩ đến chuyện Trọng Thủy Mị Châu, mất nước hại thân chẳng qua cũng vì tin người Tề quốc...
Trong nhà ngoài ngõ, nam phụ lão ấu, lại đứng ngồi không yên, bàn tán xôn xao.
Nói chung, từ ngày có công chiếu ban ra, nước Vệ nhân tâm phân tán, nhân tình thảng thốt. Chuyện nước Vệ còn hay mất, chuyện bóc đất khai mỏ hậu quả ra sao, nguy hại thế nào... phải nói là rối như canh hẹ.
Các vị bô lão cùng các sĩ phu nước Vệ lại đồng tâm soạn biểu dâng lên lần nữa. Nhưng trước sau như một, triều đình nước Vệ vẫn chỉ một câu như đinh đóng cột: Khai mỏ nguyên cao là chưởng tru lớn của đình triều. Bán cầm!
Đến lần dâng biểu thứ ba, triều đình hết kiên nhẫn, nên mới tính kế mạnh tay. Kẻ đa mưu túc kế hôm trước lại được dịp tâu rằng:
-Trên đời có những cái sợ mà ai ai cũng sợ. Đám bô lão sĩ phu này xem ra chưa biết sợ là gì. Nên trước hết phải làm cho họ sợ!
Rồi sau lại có kẻ tâu thêm:
-Bách tính bàn tán xôn xao là do xưa nay ta giấu. Nay cần làm cho họ rõ. Còn rõ thế nào, thần đã có chủ trương.
Quần thần bàn tính hồi lâu, cuối cùng cũng tìm ra bài đối phó:
Đầu tiên là cho tay họ Chí tên Phèo ra chửi đổng vài câu. Nói rằng các bô lão chẳng qua chỉ là phường trẻ con bịa đặt dễ kích động. Còn chí sĩ trong ngoài nước Vệ cũng chỉ là đám hóng hớt nói leo thiếu cơ sở. Bọn đi theo cũng chỉ là phường vô trách nhiệm tát nước theo mưa. Sau đấy lại cho bộ Công ra họp báo giải trình, đại ý nói rằng những điều tay Chí kia nói đều hoàn toàn chính xác. Không tin thì xem đây. Nói rồi chìa thông cáo.
Thông cáo đưa ra, dân chúng mắt tròn mắt dẹt. Người có chút học thức thì ôm mặt khóc hu hu. Thông cáo triều đình gì mà sai chính tả tùm lum be bét. Đầu tóc phơ phơ, các bô lão lại nhìn nhau rưng rức. Nước Vệ ta phen này nguy thật rồi!
Về phần triều đình nước Vệ, vẫn nhất nhất kế hoạch cho người Tề khai mỏ rửa quặng. Làm Vương làm Tướng, chữ tín phải đội lên đầu, làm sao sai được.

(còn nữa)

Đại Vệ văn minh chí dị (2)


Giáp Văn
Lại nói, triều đình nước Vệ nghe tin Tề Bá Vương mang người mang của sang giúp việc bóc đất khai mỏ thì mừng lắm, liền mở cuộc họp báo rao tướng lên rằng phen này nước Vệ sắp giàu rồi! Vệ ta sắp có thêm khoản tiền to để bỏ vào ngân khố rồi!
Có vị võ tướng, vốn là khai quốc công thần, tuổi tuy đã gần trăm nhưng mắt vẫn tinh anh, nhìn rõ dã tâm của Tề Bá Vương, nhưng sợ lòng dân vọng động, nên hai lần bí mật dâng biểu can ngăn. Triều đình tuy có tiếp biểu, nhưng giấu biệt tăm không cho dân chúng biết. May có kẻ nhanh tay nhanh mắt, lại có lòng với nước với dân, nửa đêm lẻn vào phủ Tể tướng chép lại, mang ra phát tán tứ phương. Dân nước Vệ nhờ thế đọc được, mới biết cái họa diệt vong đã ở sát sau lưng. Trong nhà ngoài ngõ, nam phụ lão ấu, ai ai cũng lo lắng mất ăn mất ngủ. Mấy tay mõ làng cũng không đứng ngoài cuộc, ngày đêm rao giảng chuyện nước Tề sắp mang quân sang khai mỏ nước Vệ. Chưa bao giờ tình hình Vệ quốc lại căng thẳng trầm trọng đến như vậy.

Thế nên, các vị bô lão cùng các sĩ phu nước Vệ mới tính chuyện tổ chức hội nghị Diên Hồng, phân tích thiệt hơn để soạn biểu can gián triều đình. Có vị tuổi già sức yếu, cũng không ngại đường xa, cưỡi lừa bất kể ngày đêm đi hơn trăm dặm có mặt đúng giờ. Có vị sức tàn lực kiệt, cũng ngồi lên võng bảo con cháu khiêng đi. Các bậc danh sĩ khoa bảng, vốn người nước Vệ nhưng đang sinh sống làm ăn thuyết giảng ở các nước Mẩy, Ngố, Nhất, Phù, Đủ, Tấn, Tất, Tần, Tật... cũng thu xếp trở về. Nội trong dăm chục năm trở lại đây, chưa có khi nào người nước Vệ lại cần kíp và đồng lòng như vậy.
Những tay trẻ tuổi không được tham dự hội nghị, thì xin ký tên điểm chỉ tỏ lòng hưởng ứng. Để thêm bằng cớ, có kẻ còn vào tận xứ cao nguyên ghi ảnh chụp hình. Kẻ có chút học thức, lại thạo nghề khai mỏ, thì ngồi tính toán chi li xem việc bóc đất rửa quặng lời lỗ bao nhiêu thiệt hại thế nào. Tất cả mới ngã bổ chửng ra rằng, nếu không tàn phá thiên nhiên cây cỏ, đầu độc sông suối thì phần lỗ là cầm chắc trong tay. Nên hội nghị lại càng đồng tâm nhất trí. Nhất hô vạn ứng, nội trong ba ngày, có đến mấy nghìn người xin tham gia soạn biểu ký tên can gián triều đình. Danh sách quá dài, giấy không đủ viết, các bô lão mới đành lựa lấy hơn trăm người, phần nhiều là các vị chức cao vọng trọng, cùng các sĩ phu khoa bảng đã thành danh, định ngày lành giờ tốt, đồng tâm soạn biểu dâng lên triều đình nước Vệ.
Rồi ngày ấy giờ ấy, tất cả xa gần họp mặt, tắm nước thơm, đốt trầm hương soạn biểu. Kể rõ sự tình, nói rõ cái nguy trước mắt, cái khốn lâu dài, lại thêm mười điều thua lẽ thiệt:
Việc không cần thiết, chớ nhọc sức dân
Không giúp việc làm, không thêm ngân khố
Đường xa cách trở, vận chuyển làm sao
Thiếu nuớc trên cao, thiếu điện chạy máy
Hại cỏ hại cây, hại người hại vật
Hiểm yếu chiến lược, không thể bỏ qua
Rước hổ về nhà, ngoại bang xâm nhập
Văn minh suy kiệt, Vệ tộc diệt vong
Một lần sẩy chân, muôn đời nô lệ...
Biểu soạn xong, sao thành ba bản, lại thành kính thắp hương khấn Quốc tổ Quốc mẫu, cầu Người phù hộ độ trì cho con dân nước Vệ qua cơn nguy khốn, rồi nhằm phòng Vụ quốc, phủ Tể tướng và điện Vệ Vương thẳng tiến.
Bô lão đi trước, chí sĩ đi sau, xếp thành hai hàng, áo the khăn đóng... Chưa bao giờ việc dâng biểu lại diễn ra long trọng như vậy.
Đến phòng Vụ quốc, biểu được dâng lên, đón tiếp trọng thị. Bô lão nghẹn lời, chí sĩ rơi nước mắt. Nhờ hồng phúc tổ tiên, nước Vệ ta sắp được cứu rồi!
Trời cao đất thấp, gió mát hiu hiu, lòng người hớn hở, cả đoàn lại chỉnh đốn hàng ngũ, sửa sang y phục, tiến sang phủ Tể tướng và điện Vệ Vương. Thì hỡi ôi, phủ và điện xưa nay không có thói quen nhận biểu tận tay. Muốn gửi gì trình gì, phải qua nhà mõ.
Ừ thì nhà mõ! Vận nước làm trọng, khó nhọc lúc này kể đến làm chi. Nhà mõ cạnh đây, nói khó một tí thì mõ chuyển...
Trong nhà ngoài ngõ, nam phụ lão ấu lại khấp khởi mừng thầm. Biểu đã dâng lên, thấu tình đạt lý, lẽ nào triều đình không xem xét.
Rồi cũng đến ngày đến tháng, thỏa niềm mong mỏi muôn dân, công chiếu ban ra, ngắn gọn súc tích: Khai mỏ nguyên cao là chưởng tru lớn của đình triều. Bán cầm!
Dân chúng chết đứng. Chí sĩ chết ngồi. Các vị bô lão nước mắt hai hàng, xót không thể tả.
(còn nữa)

Đại Vệ văn minh chí dị (1)

Đại Vệ văn minh chí dị (1)



(Lấy cảm hứng từ Đại Vệ chí dị của Người Buôn Gió)
Giáp Văn
Lại nói, sau khi tể tướng nước Vệ đi rồi, Đào Vương là vua nước Tề mới quay sang nói với cận thần:
-Nước Vệ tuy nhỏ nhưng ngoan cố kiên cường. Tiên đế đã bao phen mang quân chinh phạt, mấy nghìn năm rồi mà việc vẫn chưa xong. Xét theo sử sách, thì nước này Bắc giáp Động Đình, Tây giáp Ba Thục, Đông giáp Nam Hải. Trải qua mấy nghìn năm, nước Tề ta đã thu phục gần hết, chỉ còn lại phần nhỏ ở phía Nam. Nhưng cứ vài trăm năm, lại có kẻ dấy binh nổi loạn đòi cố quốc. Trước có chị em nhà Trưng Trắc, Trưng Nhị đánh lên Tượng Quận. Sau lại có bọn Tây Sơn đòi lưỡng Quảng, đòi cả công chúa. Sở dĩ như vậy là do văn minh nước Vệ độc đáo, hun đúc kết tinh truyền từ đời này sang đời khác.

Tể tướng nước Tề là Bảo, thấy vậy mới thưa rằng:
-Ngay đến cả quốc bảo của chúng ta như Kinh Dịch, Lạc Thư Hà Đồ, cũng có kẻ xấu miệng nói rằng xuất xứ là từ nước Vệ. Xem thế đủ biết, văn minh nước ấy thâm sâu khôn lường.
Đào Vương thấy vậy liền nói tiếp:
-Dân xứ ấy, bất kể đàn ông hay đàn bà, cũng anh dũng khác thường. Nhớ lại năm xưa, Thị Trinh nổi loạn, Lục tiên sinh mang quân đánh dẹp sáu tháng không xong, sau phải sai quân sĩ tụt quần diễu võ. Trinh thấy thế xấu hổ rút lui nên Lục tiên sinh mới có cơ bình phạt. Cho nên, muốn thu phục, vạn bất đắc dĩ mới phải dụng binh.
Cả hai trầm ngâm suy tính, bất giác Đào Vương nói:
-Xưa tiên đế bình phạt nước Vệ, tuy chỉ cai trị chưa đến hai chục năm, nhưng đã kịp đốt sách diệt sĩ. Cái gì quí báu cũng kịp chở về nhà. Nhờ thế mà dân Vệ lung lay như cây mất gốc suốt mấy trăm năm. Nếu không, nước Tề ta khó mà được như bây giờ, ta với các ngươi có khi cũng không có mặt. Nay ta học theo người xưa, tàn sát văn hóa, thì nước Vệ tự nhiên suy yếu. Nguyện ước của tiên đế nhờ thế mà có cơ thực hiện.
Bảo tể tướng thấy thế liền hùa theo:
-Đại Vương nói chí lý. Mấy chục năm nay ta đã cho không phim ảnh, nên dân Vệ suốt ngày xem phim dã sử nước Tề, đến mức thuộc sử Tề hơn cả sử Vệ. Chưa kể, dân xứ ấy sau mấy chục năm loạn lạc đói khổ, giờ chỉ chăm chắm lo cái trước mắt mà không nghĩ đến chuyện lâu dài. Kể như mỗi khi ta mua móng trâu móng bò, mua ếch, rắn, mèo thì vài vụ sau nhất định mất mùa đói kém. Nên kế của Đại vương, nếu bỏ chút công của, lại nhằm vào lòng tham sân si của quan lại và dân chúng thì dễ thực hiện lắm.
-Vậy ngươi định tính sao? Đào Vương hỏi. Bảo liền nói tiếp:
-Nước Vệ có cái mỏ nhôm lớn, nằm ở cao nguyên, là nơi hiểm yếu chiến lược. Nay vì túng quẫn, triều đình nước Vệ đã nhờ Đại Vương giúp sức đào lên chia phần để bán. Vậy Đại Vương mượn cớ giúp đỡ, cử hai vạn quân xuất thân từ vùng nghèo khó, giả làm phu đào mỏ đi sang. Lại dẫn thêm vài nghìn người phục dịch, mang theo nhiều quần áo, băng đĩa karaoke, phim ảnh và năm trăm cân vàng. Nội trong ba năm, có thể xong đại sự.
Ngươi nói rõ hơn xem! Đào Vương gắt.
-Muôn tâu! Trải qua nghìn năm cai trị mà xứ ấy vẫn không bị Tề hóa, chung qui cũng chỉ tại cái lũy tre làng. Cái lũy tre ấy ngăn cách sinh hoạt của dân chúng với triều đình, nên văn hóa xứ Vệ mới tồn tại dai dẳng như vậy. Thì nay cái xứ cao nguyên kia cũng thế, ở vùng hẻo lánh cách biệt, dân chúng nam đóng khố, nữ mặc váy thêu, hát sử thi Đăm Săn, gõ cồng múa chiêng, rất đặc biệt. Mỗi khi có dạ hội liên hoan to nhỏ, lại mang những thứ ấy ra nhảy múa trình diễn...
-Ngươi dài dòng quá. Nói gọn ta nghe! Đào Vương sốt ruột gắt lớn.
-Thưa vâng! Nay ta mang nhiều quần áo sang phát không cho dân chúng, thì họ không đóng khố mặc váy nữa. Lại mang băng đĩa karaoke phim ảnh cho không, thì họ không hát sử thi nữa. Lại lấy năm trăm cân vàng, đúc thành cồng chiêng, rồi cho đổi một cồng chiêng đồng lấy một cồng chiêng vàng thì nhất định dân chúng sẽ mừng húm. Nhưng cồng vàng gõ không kêu, chiêng vàng đánh không ra tiếng, thì cái trò múa cồng múa chiêng tự nhiên chấm dứt. Dân chúng tham vàng, sẽ tự đánh giết lẫn nhau, văn minh vùng ấy tự nhiên bị diệt.
-Hay! Đào Vương vỗ đùi đánh đét một cái, rồi hỏi:
-Còn gì nữa không?
Bảo thấy vậy, vui mừng ra mặt, tâu tiếp:
-Hai vạn quân sĩ sẽ cho kết hôn với người bản địa. Bọn này ở nhà không lấy được vợ, có cơ làm loạn. Nay cho sang bên ấy tiện cả đôi đường. Còn bọn phục dịch sẽ cho mở nhà hàng ăn uống giải trí, bán các món ăn Tề, hát các bài hát Tề. Sau ba năm, sẽ có hai vạn Tề con, lại có thêm một cái Tề-thao ở đó. Vậy coi như có một nước Tề nhỏ trong lòng nước Vệ. Lúc ấy, đại sự hà cớ gì lại không thành!
-Còn gì nữa không? Nếu không, tiến hành ngay lập tức! Đào Vương phấn khích đến độ không giữ được bình tĩnh. Thấy vậy, Bảo càng vui hơn, dõng dạc tâu tiếp:
-Muôn tâu! Khi khai mỏ rửa quặng, ta bí mật đổ thêm chút thuốc độc. Thuốc này theo đường sông suối mà chảy về xuôi. Nước sông nước giếng, tôm cua cá, lúa gạo cấy trồng, trâu bò lợn gà, kể cả người dân uống nước, đều sẽ bị nhiễm độc. Lúc ấy dân chúng sức khỏe suy yếu, tinh thần bạc nhược, lại suốt ngày xem phim Tề, mặc quần áo Tề, ăn món ăn Tề, vui chơi hú hí ở Tề-thao, thì sức đâu mà kháng cự. Muôn tâu bệ hạ! Cái này là bất chiến tự nhiên thành. Hoặc giả, một trận gió to là bay sạch...
-Diệu kế! Quả là diệu kế! Phen này ta một tên trúng năm sáu đích. Ước nguyện của tiên đế có cơ thành hiện thực!
Đào Vương phấn khích cùng cực, ngồi nhổm hẳn lên ngai vàng, mắt sáng rực, quát lớn:
-Bay đâu! Y kế thi hành!
Quần thần dạ ran rồi lui ra, bàn bạc cắt cử việc mang người mang của đi sang nước Vệ.
Liverpool, 30/4/09.


(Còn nữa)