Showing posts with label saigontimes. Show all posts
Showing posts with label saigontimes. Show all posts

Monday, May 30, 2011

Hiện tượng “nhậu” xét như một vấn đề của xã hội



Trần Hữu Quang

(TBKTSG) - LTS: Có cả ngàn lý do để người ta nhậu, kể ra không hết. Tuy nhiên điều có thể khẳng định là hiện tượng nhậu ngày càng tràn lan như hiện nay đã trở thành một vấn nạn xã hội. Xin giới thiệu bài phân tích dưới đây của nhà nghiên cứu xã hội học TRẦN HỮU QUANG với bạn đọc để khép lại diễn đàn về nhậu đã được khởi đăng trên TBKTSG từ số báo 18 (29-4-2011).
Trong vòng hai thập niên qua, tức kể từ đầu thời kỳ đổi mới đến nay, người Việt Nam uống bia và rượu ngày càng nhiều hơn. Số liệu thống kê cho thấy tốc độ gia tăng rất nhanh của ngành sản xuất rượu bia trên cả nước. Năm 1990, sản lượng rượu các loại mới chỉ đạt 80 triệu lít và bia các loại 100 triệu lít, nhưng đến năm 2010, sản lượng rượu đã lên tới 387 triệu lít (tăng gấp 4,8 lần) và bia 2.377 triệu lít (tăng gấp 24 lần trong 20 năm).
Tính riêng bia năm 2010, nếu chia đều cho dân số từ 15 tuổi trở lên thì bình quân cả nam lẫn nữ mỗi người được 37 lít bia, tức gần năm két bia một năm (tính mỗi két 24 lon 330 ml). Tuy nhiên, cũng cần lưu ý thêm là những con số trên chưa tính tới số rượu bia sản xuất không đăng ký, nhất là rượu đế ở nông thôn mà có người ước lượng có thể chiếm tới 70% tổng sản lượng rượu cả nước.
Sự chuyển hóa của ngôn từ
Thực ra, chữ “nhậu” xuất hiện đã lâu ở Nam bộ, ít ra từ khoảng thế kỷ 18, và hồi đó nhậu chỉ đơn giản có nghĩa là uống, thí dụ nhậu nước là uống nước, nhậu rượu là uống rượu, ăn nhậu là ăn uống(1). Sau đó, vào thập niên 1960, chữ nhậu dần dà chuyển hẳn sang ý nghĩa uống rượu (2).
Mức độ tiêu thụ rượu bia
Cuộc điều tra năm 2005 của WHO cho biết bình quân một người Việt Nam từ 15 tuổi trở lên tiêu thụ 3,77 lít cồn nguyên chất/năm (trong đó, 1,07 lít rượu bia có đăng ký, và 2,7 lít rượu bia không đăng ký). Nếu chỉ tính riêng những người có uống rượu và bia thì mức tiêu thụ là 16,1 lít cồn nguyên chất/năm nơi nam giới, và 11,6 lít nơi nữ giới (*).Điều đáng nói là ở Việt Nam, cũng theo số liệu của WHO, mức tiêu thụ số rượu bia không đăng ký kinh doanh so với số rượu bia có đăng ký bằng 252% tức gấp 2,5 lần, cao nhất vùng Đông Nam Á và Đông Á, cao hơn cả Campuchia. Con số này ở Campuchia là 169%, Lào 17%, Thái Lan 11%, Philippines 46%, Trung Quốc 40%, Hàn Quốc 25%, Nhật Bản 2%. Điều này cho thấy tình hình nấu rượu đế thủ công và sản xuất chui các loại “bia lên cơn” ở nước ta, nhất là khu vực nông thôn, quả thực hết sức đáng báo động!
___________
(*) Rượu bia “có đăng ký” là sản phẩm của những công ty có đăng ký kinh doanh, và ngược lại, số “không đăng ký” là những sản phẩm không đăng ký kinh doanh. Xem WHO, Global Status Report on Alcohol and Health 2011, Geneva, WHO Press, 2011, tr. 273-277.

Nhưng chữ nhậu theo cách hiểu bây giờ có lẽ không chỉ có nghĩa là uống rượu, mà là vừa uống rượu vừa ăn lai rai món gì đó (thí dụ: “nhậu một bữa thật say”, “mua đồ nhậu”(3)), và đáng chú ý hơn, chữ nhậu còn bao hàm cả ý nghĩa là ăn và uống rượu cùng với người khác, vì như cổ nhân nói, “trà tam rượu tứ” (thí dụ: “đãi một chầu nhậu”, “rủ nhau đi nhậu”; ai mà nói “đi nhậu một mình” thì bạn bè sẽ ngờ rằng người này đang có vấn đề !). Bản thân chữ nhậu không có nghĩa xấu, còn khi nói “nhậu nhẹt” hay “bợm nhậu” thì mới hàm ý chê bai.

Như vậy, từ chỗ ngày xưa chỉ có nghĩa là uống, nội hàm của từ nhậu bây giờ đã chuyển thành một loại hình sinh hoạt đặc trưng không chỉ ở vùng Nam bộ mà còn trên cả nước, và có lẽ rất khó mà dịch được ra tiếng nước ngoài. Sự chuyển hóa của ngôn từ này chắc hẳn không diễn ra một cách ngẫu nhiên, mà chủ yếu xuất phát từ sự phổ cập của hiện tượng “nhậu” trong những năm qua.
Nhậu là một hành vi xã hội
Nhìn dưới góc độ xã hội, nhậu hiển nhiên không phải là một hành vi ăn uống đơn thuần. Nếu nhậu luôn luôn là nhậu với ai đó, thì chắc hẳn cần nhìn nhận đây là một hành vi xã hội, tức là một hành vi hướng đến người khác, bao hàm những mối tương giao xã hội với người khác trong bữa nhậu, trong đó quan trọng nhất là các hành vi truyền thông và giao tiếp với nhau (trao đổi, kể chuyện, tâm sự, tranh luận...).
Người ta có thể tổ chức một bữa tiệc để mời bạn bè lâu ngày hội ngộ đến nhậu chơi, để làm đám giỗ, đám cưới, để mừng sinh nhật, mừng thi đậu, tạ ơn ân nhân, để chia vui hoặc giải sầu với bạn bè, để mừng trúng số hoặc trúng mánh, để bàn chuyện làm ăn, hay thậm chí để mua chuộc hay chạy chọt... Có cả ngàn lý do để nhậu kể ra không hết, dù vậy tựu trung bữa nhậu bao giờ cũng là cơ hội để gặp gỡ, tức là để hiện thực hóa các mối quan hệ xã hội.
Nhưng vấn đề đặt ra là tại sao bây giờ người ta lại nhậu nhiều hơn so với trước? Phải chăng do thu nhập bây giờ khá hơn (do dư giả, do phú quí sinh lễ nghĩa, nhưng ngược lại cũng có những người càng nghèo lại càng nhậu!), do các mối quan hệ xã hội ngày càng rộng hơn, hay do những nguyên nhân tâm lý xã hội xuất phát từ những điều kiện kinh tế-xã hội đặc thù nào đó?
Để trả lời được những câu hỏi trên, hẳn nhiên cần tiến hành những cuộc khảo sát và nghiên cứu về chủ đề này nơi các giới, các lứa tuổi, các tầng lớp xã hội, nơi nông thôn và đô thị... với các lối tiếp cận xã hội học, tâm lý học xã hội và nhân học.
Tuy nhiên, điều có thể khẳng định là hiện tượng nhậu ngày càng tràn lan đã thực sự trở thành một vấn đề xã hội. Ở đây, chúng tôi chỉ thử nêu lên một vài ý tưởng mang tính chất giả thuyết về vấn đề này.
Hiện tượng nhậu xét như một vấn đề xã hội
Trên báo chí và các diễn đàn khác nhau, người ta thường đưa ra nhiều cách giải thích khác nhau về hiện tượng nhậu và các hậu quả có thể có của nó, nhưng tựu trung đáng chú ý nhất có hai luận điểm: (a) nhậu là nguyên nhân của sự suy thoái, thậm chí của hành vi tội phạm; (b) nhậu không phải là nguyên nhân, mà là do suy thoái cá nhân nên dẫn đến chuyện nhậu thường xuyên. Chúng tôi cho rằng cả hai luận điểm này đều chưa ổn thỏa vì quá giản lược và chỉ đúng một phần.
Trước hết, chúng ta cần lưu ý rằng chữ nhậu không bao hàm một thực thể duy nhất đồng dạng, bởi lẽ có nhiều dạng và nhiều mức độ nhậu khác nhau. Do vậy, sự phê phán không thể bỏ hết mọi thứ vào trong một cái rọ, mà cần phân biệt từng loại hình cụ thể.
“Nhậu” và “xỉn”
Cao Tự Thanh, nhà nghiên cứu văn học Hán-Nôm, đã đưa ra một cách giải thích về nguồn gốc của chữ nhậu như sau: “Từ nhẩm chẩu (ẩm tửu, uống rượu) có lẽ vì được nói lè nhè với giọng say rượu nên đã bị chập và biến âm thành nhậu, đưa lại cho hành vi sinh hoạt này của người Nam bộ một dáng cách và ý vị riêng” (a).
Thường đi kèm với chữ nhậu là chữ xỉn. Cũng theo Cao Tự Thanh, xỉn là một từ có gốc tiếng Hoa, đọc theo âm Hán-Việt là trình (có nghĩa là: bệnh vì rượu, say ba ngày mới tỉnh), phát âm theo giọng của người Hoa Quảng Đông ở Nam bộ là xỉn (b).
___________________________
(a) Cao Tự Thanh, “Những yếu tố Hoa trong phương ngữ Nam bộ”, Tạp chí Hán Nôm, số 2, 2000. (b) Xem bài của Trần Thanh Giao, “‘Xỉn”từ đâu ra ?”,http://tranthanhgiao.com.

Mặt khác, việc nhậu nói chung hay rượu bia nói riêng tự chúng chẳng có gì xấu hay đáng lên án. Rượu thường được xem là có tác dụng gây hưng phấn, cũng như việc bạn bè thỉnh thoảng gặp nhau đi nhậu tự nó là một sinh hoạt bình thường và lành mạnh.
Lẽ tất nhiên, uống quá chén thì đâm ra say xỉn, và nếu uống đều đều hàng ngày đến mức nhậu nhẹt bí tỉ, nhậu quắc cần câu, nhậu tới bến, thì có thể dẫn đến nhiều nguy cơ về bệnh tật, tai nạn giao thông, và thậm chí có thể đi đến những trục trặc trong quan hệ gia đình và quan hệ xã hội. Xét về mặt thể lý, có thể nói rượu có tác dụng phần nào tương tự như ma túy, tức là đã nghiện rồi thì khó lòng từ bỏ, từ cảm giác lâng lâng ban đầu dễ dẫn đến những ảo giác khi quá chén, mụ đầu óc, và có thể khiến mất tự chủ bản thân.
Tuy nhiên, dù vậy, theo thiển ý chúng tôi, vẫn không ổn khi cho rằng men rượu tự nó là thủ phạm gây ra tệ nạn hay tội ác. Thông thường những hành vi loại này thực ra không chờ đến khi có rượu bia mới phát sinh mà thường đã có mầm mống từ trước, bắt nguồn từ những hoàn cảnh xã hội, những mối quan hệ xã hội, cũng như từ một số đặc trưng nhất định trong tiểu sử cá nhân, và rượu bia lúc này chỉ là một thứ chất xúc tác trực tiếp cuối cùng mà thôi. Hẳn do vậy mà có một số người hay “mượn rượu” để có cớ chửi bới hoặc la lối... Vả lại, cho dù Nhà nước có cấm hẳn rượu bia thì cũng khó lòng mà hình dung xã hội sẽ không còn tệ nạn và tội phạm.
Chúng tôi nghĩ rằng không đúng khi lên án nhậu là một căn bệnh, và cũng không phải do suy thoái cá nhân nên người ta đâm ra nhậu nhẹt say sưa, bởi lẽ suy cho cùng, hiện tượng nhậu nhẹt có lẽ chỉ là triệu chứng của một số căn bệnh nào đó trong bản thân xã hội, tức là bắt nguồn từ sự suy thoái của xã hội chứ không phải từ sự suy thoái của cá nhân.
Dĩ nhiên, vì những hậu quả thể lý lẫn hậu quả xã hội có thể có của chất cồn nếu uống thái quá, nên cần phải có những biện pháp nhằm hạn chế việc tiêu thụ rượu bia trong tình hình hiện nay. Nhưng vì nhậu cũng là một hành vi xã hội và hiện tượng nhậu đã trở thành một vấn đề xã hội, nên chúng ta còn cần phải đi tìm những căn nguyên sâu xa của vấn đề này trong các mối quan hệ xã hội và không gian xã hội, chứ không phải chỉ đơn giản quy tội cho chất men hay bản thân bàn nhậu.
Lai rai với chuyện nhậu
Ngày trước, nhậu chỉ có ở giới bình dân, ít tiền, hoặc lính tráng thắng trận, thua trận. Công chức, giáo chức, bác sĩ gần như không có nhậu mà chỉ có tiệc, chủ yếu tại nhà, uống ít nhưng phải là rượu ngon... Đáng nói hơn là tuyệt đối không có chuyện dùng tiền công (thuế của nhân dân) để nhậu, không có cảnh ngành tỉnh này tiếp ngành tỉnh kia, hết sân nhà tới sân khách.
Ngày nay giới nào cũng nhậu, cũng la lối om sòm trong tiệc. Người nhậu đa phần là công chức. Người lãnh lương thấp cũng nhậu. Vì sao người ta nhậu nhiều, vừa tốn nhiều thì giờ vừa hao tổn sức khỏe.
Vì sao ít người dành thời gian ấy để nghiên cứu, học tập, rèn luyện thể lực, thụ cảm nghệ thuật. Phải chăng không cần những thứ đó, họ vẫn có nhiều tiền, vẫn thăng quan tiến chức?
Trần Chí Kông

Một bữa nhậu có thể có tác dụng giải tỏa những ức chế mà người ta thường gặp phải trong cuộc sống hàng ngày, khiến người ta dễ giãi bày tâm sự để chia sẻ với bạn bè hay đồng nghiệp (nhưng phải nói thêm là cũng có những trường hợp muốn “giải sầu” nhưng “rút dao chém xuống nước, nước càng chảy mạnh, nâng chén tiêu sầu, càng sầu thêm!”).
Đối với một số tầng lớp nào đó, cuộc nhậu cũng có thể chỉ là một thứ giết thời giờ vì không biết làm gì khác, về nhà thì không có gì để làm, cũng chẳng thích đọc sách, dạy con học thì dạy không nổi... thực chất là nhằm khỏa lấp sự thiếu hụt hay đúng hơn là sự trống rỗng trong đời sống tinh thần, không biết đầu tư thời gian vào cái gì, và cũng chẳng có sự nghiệp gì để dồn công sức vào.
Nhưng nếu bây giờ hiện tượng nhậu ngày càng tràn lan thì phải chăng đó là do những dạng tâm trạng ức chế khác nhau đã lan ra phổ biến trong các tầng lớp xã hội, và chuyện đi nhậu trở thành như một thứ lối thoát tiêu cực, một sự chạy trốn hay che mắt khỏi thực tại? Phải chăng đây là biểu hiện của một tình trạng vong thân hay tha hóa, hiểu theo nghĩa triết học chứ không phải theo nghĩa đạo đức, khi mà người ta thấy bất an và mất đi sự tự tin, không cảm thấy phát triển được và tự khẳng định được trong không gian lao động và không gian xã hội vốn còn nhiều nghịch lý và bất trắc, mà ngược lại chỉ nhận ra bản thân mình khi ăn nhậu bù khú với bạn bè?
Nếu quả đúng như vậy thì hiện tượng nhậu ngày nay không còn chỉ là một vấn đề xã hội mà đúng hơn đã trở thành một vấn đề của xã hội.
___________________________________________________________
(1) Xem Tự vị Annam-Latinh năm 1772-1773 của Pigneaux de Béhaine, do Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch và giới thiệu, tr.341; Huỳnh Tịnh Của, Đại Nam quấc âm tự vị, tập II, Sài Gòn, Imprimerie Rey, Curiol&Cie, 1896, tr. 127.
(2) Cuốn Việt Nam tự điển của Hội Khai trí Tiến đức xuất bản năm 1931 vẫn còn giải thích chữ nhậu là uống, như nhậu rượu, nhậu nước (tr. 409). Nhưng đến cuốn Từ điển Việt Nam của Thanh Nghị ấn hành năm 1958 thì bắt đầu định nghĩa chữ nhậu là “uống, thường là uống rượu” (tr. 967). Và đến cuốn Việt Nam tân từ điển minh họa cũng của Thanh Nghị in năm 1967 thì chữ nhậu chỉ còn lại một nghĩa là “uống rượu”, thí dụ: rủ nhau đi nhậu (tr. 1.010).
(3) Xem Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (chủ biên), Viện Ngôn ngữ học, tr. 715.

08/01 Thị trường bia, nước giải khát nóng từng ngày



Minh Tâm - Thái Hằng
Thứ Bảy,  8/1/2011, 16:36 (GMT+7)
Nhu cầu mua đang tăng mạnh, giá bia, nước giải khát tăng từng ngày. Ảnh: Kinh Luân

(TBKTSG Online) - Năm, nào cũng vậy, cứ cận kề Tết Nguyên đán, thị trường bia, nước giải khát lại trở nên rất sôi động, lượng tiêu thụ tăng mạnh một phần do nhu cầu biếu tặng và tiêu dùng ngày Tết. Năm nay dù các công ty đều khẳng định hàng nhiều nhưng giá lại đang tăng mỗi ngày. Khả năng bia, nước ngọt tăng giá vài chục phần trăm rất có thể sẽ xảy ra.
Mỗi ngày một giá
Ngày 8-1, Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online thử khảo sát giá cả mặt hàng bia và nước giải khát tại một số đại lý bán sỉ ở một số tuyến đường như Lê Quang Sung (quận 6); Nguyễn Thông (quận 3) trên địa bàn TPHCM. Còn 25 ngày nữa mới đến Tết Nguyên đán nhưng tình trạng tăng giá mỗi ngày đã diễn ra.
Giá một số loại bia, nước ngọt thông dụng trên thị trường hiện ở mức khá cao. Ví dụ, bia Heineken ở mức từ 330.000-335.000 đồng/thùng; bia Tiger ở mức 225.000-228.000 đồng/thùng; bia 333 mức 192.000-197.000 đồng/thùng; nước ngọt Coca- cola từ 148.000-152.000 đồng/thùng; Pepsi, 7 up: 146.000- 150.000 đồng/thùng; xá xị Chương Dương: 100.000- 104.000 đồng/thùng; trà xanh 0 độ: 140.000-145.000 đồng/thùng; trà Dr Thanh: 165.000-170.000 đồng/thùng… So với thời điểm cuối tháng 11, đầu tháng 12-2010, các mức giá này đã tăng khoảng 10- 15% khi các nhà sản xuất, nhập khẩu điều chỉnh giá với lý do giá đầu vào tăng.
Do giá cả biến động từng ngày theo hướng hôm sau cao hơn hôm trước nên đa số các đại lý bia nước ngọt chỉ dám “bao giá” trong ngày, không chắc chắn mức giá sẽ như thế nào vào những ngày tiếp theo. Nhân viên bán hàng của đại lý Bình Lan (16 Lê Quang Sung, quận 6) nhấn mạnh: “Mua ngày nào tính giá ngày đó. Ví dụ như Heineken, hôm qua tôi bán ra ba trăm ba mươi ngàn nhưng nay tăng thêm 5 ngàn nữa rồi. Ngày mai chưa biết là bao nhiêu”.
Theo các cửa hàng, lý do không thể giữ giá trong nhiều ngày là vì các công ty cung ứng cũng liên tục đổi giá theo chiều hướng tăng, buộc họ phải tăng theo. Và cũng vì lý do này, hầu hết các đại lý đều không chấp nhận hình thức đặt tiền trước, lấy hàng sau để giữ giá.
“Chị muốn mua bao nhiêu, đặt đủ tiền nhưng hôm nào lấy hàng thì tính giá hôm đó, không thể tính giá ngày đặt hàng được. Tụi tôi không thể chủ động nguồn hàng vì đâu biết lúc nào công ty sẽ ngừng giao. Thấy thị trường hút hàng là họ tìm cách găm hàng đẩy giá liền. Lúc thì bận họp, khi thì liên hoan cuối năm… Nhận rồi giá lên, chúng tôi lỗ sao?”, nhân viên cửa hàng Dủ Nguyên (số 1 Lê Quang Sung, quận 6) nói.
Cũng theo các cửa hàng, một điều khá chắc chắn là càng cận Tết, giá bia, nước ngọt càng tăng do nhu cầu lớn, giá có thể đội lên cả 50-70% so với giá thời điểm đầu tháng Chạp này. Chủ một cửa hàng trên đường Nguyễn Thông, quận 3 cho rằng, thời điểm cận tết là lúc người tiêu dùng lẻ bắt đầu mua hàng, đẩy cầu lên. Tuy nhiên, đây lại là lúc các công ty bia cũng như các đại lý cấp 1 chuyên lấy lý do hết hàng, chưa sản xuất kịp để giảm luợng hàng bán ra. “Hàng khan thì đẩy giá cỡ nào chẳng được. Bao nhiêu năm nay đều thế dù năm nào nhà sản xuất cũng nói tăng sản lượng”, chủ cửa hàng này kết luận.
Sẽ nhập thêm 350.000 thùng bia?
Theo bà Nguyễn Thị Ánh Hồng, Tổng giám đốc hệ thống siêu thị Maximart, chủng loại, mẫu mã của mặt hàng bia, nước giải khát nhập khẩu năm nay đa dạng, phong phú hơn hẳn mọi năm. “Chưa có năm nào nhiều hàng mới như năm nay. Nào là bia Tiệp, bia Đức, bia Mỹ, bia Ý… đủ loại cả”, bà Hồng nói. Thêm vào đó, các nhà máy bia cho biết đều đã chạy hết công suất. Nhưng thực tế, giá bia trên thị trường vẫn “nóng” từng ngày, liệu có phải do cung cầu mất cân đối tạm thời trong dịp Tết?
Vừa qua, công ty liên doanh nhà máy bia Việt Nam (VBL - công ty sản xuất hàng loạt nhãn hàng như Heineken, Fosters, Tiger, Carlsberg và San Miguel) đã xin Uỷ ban Nhân dân TPHCM cho nhập khẩu 350.000 thùng bia Heineken lon trong các tháng 11,12-2010 và tháng 1-2011 để “đáp ứng nhu cầu thị trường phát sinh các tháng cuối năm 2010 và cận tết”. Riêng trong 2 tháng: 12-2010 và tháng 1-2011, công ty này xin nhập khoảng 150.000 thùng bia Heineken/tháng, trị giá 900.000 đô la Mỹ/đợt.
Theo giải thích của liên doanh này, sản lượng bia của công ty hiện đã được nâng lên thêm 300.000 lít/năm nhưng vẫn không đáp ứng được nhu cầu quá lớn trong dịp Tết. “Nhà máy đã chạy hết công suất mà vẫn chưa đáp ứng nhu cầu thị trường”, VBL cho biết.
Tuy nhiên, UBND TPHCM chưa đồng ý đề nghị của VBL với lý do bia rượu không phải là mặt hàng thiết yếu, nếu nhập với số lượng lớn sẽ tác động đến kim ngạch nhập khẩu của thành phố. Sự việc đang tiếp tục được xem xét trong khi VBL kêu rằng, công ty này đã đặt hàng 400.000 thùng bia từ đối tác Singapore và Thái Lan từ giữa năm 2010 và có thể bị phạt nếu không được phép nhập số hàng đó.
Trong khi đó, một trong những nhà sản xuất trong nước là Tổng công ty bia rượu và nước giải khát Sài Gòn (Sabeco), - đơn vị chiếm trên 30% thị phần - đặt mục tiêu tiêu thụ 1 tỉ lít bia trong năm 2010, tăng hơn 10% so với năm 2009 (với 895 triệu lít sản phẩm các lọai). Đến cuối tháng 11-2010, công ty này công bố đã hoàn thành kế hoạch trên.
Về sản lượng trong dịp tết, ông Lê Hồng Xanh, Giám đốc điều hành marketing Sabeco trả lời trên một tờ báo rằng, công ty này sẽ cung cấp ra thị trường từ 100-120 triệu lít bia, tăng 30% so với mùa tết năm ngoái và sản xuất dự trữ tăng thêm 20-30% nên không có chuyện thiếu hàng.
Theo ước tính, sản lượng bia của các nhà máy bia Việt Nam đến hết năm 2010 vào khoảng 3,5 tỉ lít/năm, thị phần chủ yếu vẫn nằm trong các công ty có vốn Nhà nước là Sabeco (khoảng 34%) và Tổng công ty cổ phần Bia – Rượu – Nước giải khát Hà Nội tức Habeco (khoảng 19%), còn lại thuộc về các liên doanh, đáng kể nhất là VBL.Ngoài ra, số liệu mới nhất của Cục Hải quan TPHCM cho thấy, trong tháng 11-2010, kim ngạch nhập khẩu bia qua các cửa khẩu của thành phố là hơn 110.000 đô la Mỹ, nâng tổng kim ngạch lũy kế trong 11 tháng đầu năm lên gần 800.000 đô la Mỹ.

06/05 Nhậu - căn bệnh nan y?


Nguyễn Văn Mỹ (*)
Thứ Sáu,  6/5/2011, 16:21 (GMT+7)

Người ta có thể nhậu mọi lúc, mọi nơi. Ảnh: Lê Hồng Thái.
(TBKTSG) - LTS: TBKTSG ngày 28-4-2011 có bài viết “Nhậu: từ tập quán văn hóa đến tệ nạn” đề cập tình trạng nhậu nhẹt hiện đã trở thành tệ nạn phổ biến trong xã hội. Tuần này, chúng tôi tiếp tục đăng tải ý kiến bạn đọc nói tiếp vấn đề đang được quan tâm này.
Rượu bia dùng trong các bữa ăn hay buổi tiệc là một nét văn hóa ẩm thực của nhiều nước. Nếu chỉ uống một lượng vừa đủ sẽ giúp bữa ăn ngon miệng hơn, kích thích tiêu hóa tốt hơn.


Nhưng nhậu thì khác! Nhậu ở xứ ta có thể thấy ở mọi lúc mọi nơi và uống là chính, ăn chỉ là phụ. “Lai rai” thì còn chấp nhận được chứ nhậu “tới bến” đến say xỉn, mất tự chủ thì quả là tệ nạn.
Không phải tự nhiên các nước đạo Hồi cấm tiệt rượu bia. Chẳng phải vô lý khi một số nước đánh thuế “khủng” vào các loại thức uống chứa cồn. Tôi làm nghề du lịch, có dịp đi khắp đất nước, đến nhiều quốc gia, chẳng thấy ở đâu nhậu nhiều như ở nước ta. Cả nam lẫn nữ, mọi độ tuổi, mọi thành phần đều nhậu. Có người còn nghĩ nhậu là sành điệu, nhậu càng nhiều càng bản lĩnh, tửu lượng ngày càng cao càng được nể phục! Nhậu trở thành “bản sắc văn hóa” (hay tệ nạn - có người gọi là quốc nạn). Số liệu từ các nhà máy rượu bia cho biết bình quân mỗi người Việt Nam uống 15,8 lít bia và 3,9 lít rượu/năm. Nhưng còn rượu lậu, bia chui? Số lượng bia rượu đã được uống chắc chắn còn lớn hơn nhiều. Ở các nước khác chỉ có quán rượu còn ở nước ta có cả phố nhậu, làng nhậu nằm đan xen với các khu phố văn hóa, trong các phường, xã văn hóa!
Vừa rồi đi Hà Giang, ghé chợ Đồng Văn, Mèo Vạc, Hoàng Su Phì, thấy bà con dân tộc uống rượu mà phát hoảng! Rượu uống bằng tô, uống chay, từng “can” 20 lít. Cả đàn ông, đàn bà và thiếu niên, uống say rồi nằm la liệt. Hèn gì thể trạng người miền núi ngày càng quắt lại? Từ mười năm trước, tôi đã từng bàng hoàng khi thấy một bé trai hai tuổi, ở truồng, uống rượu như nước ở bản Tả Phìn - Sapa. Vừa rồi có một đoàn du khách đi xe lửa ra Nha Trang, đoàn chỉ có hơn 20 người mà nốc sạch 15 thùng bia. Đi với bà con nông dân thì họ mang theo mấy can rượu, lên xe là “uống tới bến”. Đến cả thầy giáo, bác sĩ, công an, cán bộ Đoàn, cán bộ Đảng... cũng không hề kém cạnh.
Nhậu, từ sáng tới trưa, từ chiều tới tối, từ chạng vạng đến khuya, kéo theo vô vàn hệ lụy. Không chỉ là “rượu vào lời ra” mà còn tăng độ liều mạng trong mọi hành động, trong giao thông cho đến quan hệ đồng loại và cả đạo đức xã hội.
Có lần, tôi hỏi thăm vài... bợm nhậu: “Sao nhậu dữ vậy?”. “Buồn quá!”. “Thế nhậu có bớt buồn không?”. “Lúc nhậu thì quên”. “Còn sau đó?”. “Càng buồn hơn!”. Vậy thì nhậu làm gì hả Trời? Tháng trước về miền Tây, gặp một em học trò cũ bị chồng nhậu xỉn đánh bầm mặt, vừa khóc vừa kể khổ. Tôi hỏi: “Sao em biết nó nhậu nhiều mà còn lấy?”. “Thầy thử tìm giùm em một thanh niên ở xã này, có ai không nhậu?”. Tôi chỉ biết lặng im.
Đưa du khách nước ngoài qua các phố nhậu, họ chỉ lắc đầu. Chẳng biết là họ thán phục hay ngao ngán? Có mấy người đã đến Việt Nam nhiều lần còn hiểu nhầm rằng “Nhà nước Việt Nam khuyến khích (hoặc ngấm ngầm cổ xúy) người dân uống rượu, bởi chẳng nước nào được uống rượu thoải mái như ở đây??? Nhậu cũng thể hiện sự bế tắc, mất niềm tin vào thực tại và tương lai. Tôi nhớ ngày xưa Nguyễn Ái Quốc từng lên án chế độ thực dân Pháp dùng rượu để mê muội dân tộc, làm tê liệt nhuệ khí thanh niên, lây lan tâm lý xao lãng và bất cần thực tại.
Nhiều người lý giải: “Nhậu là để ngoại giao, để làm ăn, để ký hợp đồng... Không nhậu không được!”. Nhưng đó cũng có thể là sự ngụy biện.
Nhậu là con đường ngắn nhất dẫn đến tội ác! Không thể cấm nhậu nhưng có thể hạn chế bằng đánh thuế mạnh vào bia rượu như ở Singapore. Ở đảo quốc sư tử, giá một lon bia bán ngoài đường là 4 đô la Mỹ, còn trong khách sạn 3 sao là 15 đô la Mỹ và không phải chỗ nào cũng có. Giá rượu lại càng đắt và khó mua hơn. Nên cấm bán - uống rượu trong giờ hành chính và phạt thật nặng những kẻ vi phạm, người say xỉn. Và cán bộ, đảng viên lại càng phải nêu gương.
Số tiền mua bia rượu và số tiền phải bỏ ra để khắc phục hậu quả của nhậu (từ bệnh tật đến tai họa, tai nạn...) chắc chắn không nhỏ. Thời gian nhậu nếu dành để học hành, nghỉ ngơi, chơi thể thao, tập thể dục, quan tâm người thân thì chắc hẳn xã hội sẽ bớt nhiễu nhương hỗn loạn. Nghiêm trọng hơn, nhậu không chỉ “đầu độc cả một thế hệ” mà còn làm suy yếu cả một dân tộc.
__________
(*) Lửa Việt & Tavitours

Sunday, May 15, 2011

15/05 Chung quanh huyền thoại rượu


minh họa: Khều.
(TBKTSG) - LTS: Nói tiếp vấn nạn nhậu nhẹt lan tràn trong xã hội, tuần này, TBKTSG giới thiệu bài viết dưới đây của tác giả Huỳnh Ngọc Trảng.
Ai trên đời chẳng uống rượu, mà uống rượu thì phải say/Rượu mà uống chẳng say: không phải đi uống rượu/Không phải hay uống rượu, rượu là rượu bia là bia.
Đêm mắc màn ngủ với vợ, nghe đến rượu rồi lại đi/Vợ mà nói tiếng chi, đây là cho... một đạp/Đây là cho một đạp: vợ là vợ ta là ta!
Ai trên đời chẳng quý rượu, rượu từ gạo mà ra/Rượu còn quý hơn cơm, cơm làm sao bằng rượu/Dẫu nói xuôi nói ngược, đã rượu là thôi cơm.
Trên đây là trích đoạn ca từ từ các dị bản của các sáng tác dân gian hiện đại, có tên gọi chung là “Huyền thoại rượu”, được hát theo sườn giai điệu của ca khúc Huyền thoại mẹ của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Bài “Huyền thoại rượu” được hát phổ biến trong các cuộc nhậu và cũng được công bố trên mạng với nhiều dị bản chứa những nội dung, chi tiết cực kỳ phong phú. Thế là dân nhậu đã như là một tiểu văn hóa, một nhóm xã hội... Rượu là thức uống có chức năng đặc biệt trong nghi lễ, hội hè hay cuộc tiệc thù tạc, giao tiếp xã hội... Tuy nhiên, khi lạm dụng nó, người nghiện rượu có thói quen tụ nhau nhậu nhẹt, và tình trạng nhậu nhẹt phổ biến hiện nay có thể coi là hiện tượng lệch chuẩn về lối sống.
1. Sự lệch chuẩn được định nghĩa là sự vi phạm có ý thức các quy phạm văn hóa hay kỳ vọng của một nhóm hoặc xã hội. Các hành vi lệch chuẩn bị hạn chế hay trừng phạt nhờ vào sự kiểm soát xã hội hoặc phi chính thức (phê phán, chê bai, nhạo báng, đe dọa...) hoặc chính thức (phạt tiền, phạt tù). Uống rượu say, có thể liệt vào loại tội phạm không có nạn nhân khi người say không vi phạm các quy phạm ban hành chính thức thành hình luật, song nhậu nhẹt đã tạo ra một dải rộng nối kết những dạng hành vi nguy hại đối với phong hóa: từ nề nếp gia đình, đến học đường/giáo dục, làm ăn kinh tế và giải trí. Hơn nữa, người có vấn đề với rượu dễ trở thành kẻ ngược đãi, bạo hành đối với vợ con, người thân và xã hội như việc điều khiển phương tiện giao thông khi say rượu gây tai nạn chết người. Điều này đã làm thay đổi thái độ của công chúng đối với nạn say sưa và là căn cứ để đưa tội danh này vào hình luật.
Điều đáng chú ý, những người nhậu nhẹt dường như tạo ra một “tiểu văn hóa”, lấy tửu lượng, trình độ xả láng làm chuẩn tắc đẳng cấp. Cách sống này đã trở thành hiện tượng mà các nhà nhân học gọi là “trò chơi sâu đậm” (deep play), tức lấy mức độ liều lĩnh, chịu chơi để khẳng định mình khác với những người không biết, không thích, không dám nhậu.
Những người bị tách riêng ra do tuân thủ các quy phạm văn hóa thông thường có khi bị coi là... lệch pha, là kẻ “lên mặt đạo đức”, “người phá đám”.
2. Lệch chuẩn có thể là kết quả của sự chọn lựa tự do hay sự thất bại cá nhân, song cũng như mọi hành vi xã hội, lệch chuẩn (hay tuân thủ nghiêm túc các quy phạm văn hóa - xã hội) đều bắt nguồn từ xã hội. Anh B., trưởng phòng cấp quận, nổi tiếng trong giới đồng liêu với biệt danh “nhậu Coca Cola”. Vốn B. bị bệnh cao huyết áp nặng và lại bị men gan nên phải chừa tuyệt rượu bia. Trong các cuộc nhậu, B. chỉ uống Coca Cola suốt buổi nên có biệt danh là vậy. Tôi hỏi: Đã bệnh phải kiêng cữ thì đi nhậu làm gì? B. đáp: Nhậu đâu phải là ăn nhậu, ở đó mới bàn công việc với các sếp, các đối tác làm ăn được.
Ở xứ ta, giờ rất phổ biến việc nhậu là “làm việc”. Ở đó, các thỏa thuận về cách làm và cách ăn chia được cụ thể hóa. Các khoản tiền dấm dúi, các kế hoạch và mưu chước được bàn thảo tường tận! Tệ nạn chạy dự án, mua chức bán quyền, các tệ tục của xã hội đương đại phát triển tỷ lệ thuận với tập quán nhậu. Bắt đầu ký hợp đồng: nhậu; kết thúc: nhậu mừng chiến thắng; và đoạn giữa: nhậu để thể hiện tình nghĩa anh em, hâm nóng mối quan hệ! Các độ nhậu mưu lợi diễn ra không chỉ ở lĩnh vực làm ăn mạo hiểm, hoạt động mờ ám, hối mại quyền thế mà cả trong quan hệ thầy trò, thầy thuốc và gia đình bệnh nhân... dưới danh nghĩa “hậu tạ”.
Đây hẳn là hệ quả của tập quán “biết điều” trong chế độ xin-cho kéo dài từ thời tập trung - quan liêu - bao cấp cho đến nay, mặc dù chế độ đó đã chính thức bị khai tử năm 1986. Trong khuôn khổ của chế độ xin-cho, người đi xin muốn được người “đày tớ của nhân dân” cho cái gì buộc phải thực hiện pháp môn “có đi có lại”, cách ứng xử này được gọi một cách phúng dụ là “thủ tục đầu tiên”. Một trong những cách thể hiện “pháp môn” này tiện lợi, dễ dàng và tế nhị nhất là mời đi nhậu dưới danh nghĩa tình cảm, và từ đó, tiến đến các thủ tục gửi phong bì, tặng quà trên mức tình cảm.
3.Như chúng ta đều biết, ngoài những nguyên nhân chủ quan của cá nhân, thì môi trường xã hội được xem là yếu tố quyết định để khuyến khích hay kiềm chế những khuynh hướng lệch chuẩn (hay phạm tội). Vậy do đâu mà trong xã hội ngày nay, nhậu đã trở thành hiện tượng phổ biến như vậy?
Tình cảnh văn hóa-xã hội chung là chúng ta đã và đang sống trong một thời kỳ tiến thoái lưỡng nan (gọi là tình trạng song đề), nhập nhằng giữa hai cực cũ-mới. Các hệ giá trị cũ do mâu thuẫn với yêu cầu bình thường hóa cuộc sống của con người và yêu cầu hiện đại hóa để phát triển nên ngày càng bị thu hẹp chỗ đứng. Ngược lại, các giá trị mới đích thực lại bị rào cản của não trạng chính thống nên không phát triển thành hệ giá trị chủ đạo và quan phương trong xã hội. Rõ ràng là phải đổi mới cái A, cái B, song các giá trị cũ, các khuôn mẫu chính thống vẫn còn sống động trong hầu hết mọi lĩnh vực của cuộc sống thực tế, trong cơ cấu thể chất nền kinh tế, trong các định chế, các quy định của pháp luật, các quan hệ qua lại của con người, trong suy nghĩ và tập quán hàng ngày của người dân.
Cái cũ đã mất chỗ đứng, cái mới chưa được định hình nên cứ theo logic thì phải thế này mới đúng, thực tiễn thì phải làm khác mới có hy vọng sống còn và có cơ may phát triển. Thế là chỉ có một cách sống cùng lúc trong hai cảnh giới, mang lấy cái nhân cách nhị trùng trong một thân phận. Tình trạng nước đôi hay thậm chí là phi chuẩn mực (thuật ngữ xã hội học gọi là anomie: còn được dịch là vô kỷ hay loạn cương) là mảnh đất màu mỡ cho chủ nghĩa tương đối về đạo đức. Trong thực tế, biểu hiện nổi bật của xu hướng này là cách sống thực dụng hai mặt, hư vô cả niềm tin và pháp luật. Thời thượng là kiếm tiền bằng mọi giá và tranh thủ hưởng thụ vào mọi lúc. Các cuộc nhậu vừa là dịp để bàn chuyện làm ăn kiếm tiền vừa là cách hưởng thụ - không chỉ ăn nhậu mà còn bao gồm các dịch vụ chơi bời trọn gói, gọi là từ A tới Z.
Nói chung, quá trình mất chuẩn mực, một là diễn ra ngay bên trong một hệ thống hoạt động hiệu quả khi không gian kiểm tra xã hội bỏ ngỏ, sự kiểm soát xã hội đối với hành vi cá nhân trở nên không còn hiệu quả, hay được xử lý bằng hết giải pháp tình thế này đến giải pháp tình thế khác, theo đuôi các sự việc nảy sinh liên tục theo thời gian, ở đó, ngay cả giới hạn mới cũng tỏ ra quá hẹp. Mặt khác, tác động ngoại sinh do những đổi thay rộng lớn ở môi trường mà hệ thống xã hội đang hướng đến trong nỗ lực hội nhập cũng góp phần thúc đẩy quá trình mất chuẩn mực. Đến một thời điểm nào đó, có thể chính sự tuân thủ chuẩn mực cũ lại không mang tới kết quả và gây ra nghi ngờ ý nghĩa của nó.
Trong tình cảnh này, giải pháp căn cơ là tìm những biện pháp thuyết phục để thay đổi cấu trúc chuẩn mực, bởi nếu không thực hiện được điều này thì các thành viên của hệ thống sẽ tìm những chiến lược riêng để đi đến thành công mà không nhất thiết phải lưu tâm đến các yếu tố khác liên hệ với chúng. Đi kèm theo đó là sự thịnh hành của lối sống theo xu hướng đạo đức hoàn cảnh “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, tập trung sự quan tâm vào vấn đề tồn tại hay không tồn tại và không (hoặc ít) lưu ý đến câu hỏi tồn tại như thế nào, tức coi thường giá trị, chuẩn mực sống ở đời.
Không nhậu để làm gương
Để biện minh cho thói bù khú nhậu nhẹt, kiểu gì người ta cũng tìm ra cái cớ. Đây là dấu hiệu không tốt trong một xã hội hướng tới sự phát triển.
Trước năm 2000, khi còn làm việc tại một sở nọ ở TPHCM, công việc của tôi được sếp giao là tiếp khách. Tôi vốn không thích chuyện nhậu nhẹt nhưng đã lỡ rơi vào thế khó nên đành phải “bấm bụng” để hoàn thành sứ mệnh. Thông qua các cuộc nhậu, người ở thế yếu thường mạnh miệng hơn trong chuyện muốn nhờ vả, cũng có thể xem đó là cuộc giao ước, đặt cọc cho công việc sắp tới.
Khi tôi thành lập công ty chuyên về dịch vụ kiểm soát dịch hại, diệt côn trùng, vi khuẩn ở nhà hàng, khách sạn, nhà máy, giàn khoan, trên cương vị mới, tôi chính thức bày tỏ quan điểm của mình về chuyện nhậu nhẹt. Đáp lễ những lời mời nhậu nhẹt của đối tác (với lý do cho dễ nói chuyện hoặc để hiểu biết nhau hơn), tôi mời họ đi ăn trưa.
Tôi cũng không tiếp khách sau giờ làm việc. Tôi dành thời gian đó cho gia đình, dạy dỗ con cái. Người cha không thể làm gương cho con nếu chiều tối nào cũng la cà ở quán nhậu.
Ninh Hữu Hiệp, Giám đốc Công ty TNHH Tam Hiệp

Sunday, April 10, 2011

07/04 Vietnam revolution history on displayin Ha Giang

Thursday, April 7,2011,22:10 (GMT+7)

An exhibition named “History of Vietnam’s Revolution” featuring more than 200 photos, documents and objects has recently opened in the Ha Giang provincial museum, reports VietnamPlus.

The show briefly introduces several periods in the country’s contemporary history from the struggle against the French colonialists at the end of the 19th century and beginning of the 20th century, the founding of the Communist Party of Vietnam on February 3, 1930, the movement for national independence (1930-1945), the resistance wars against the French dominance (1946-1954) and the U.S., gaining liberation for the South and the national reunification (1955-1975) to the cause of national construction and renewal (from 1975 until now).

The exhibition is aiming to help ethnic groups in the mountainous province, especially the younger generations, find out more about the nation’s history.

The exhibition will run until April 24.

07/01 Đường cái quan


Độc Thư
Thứ Năm, 1/7/2010, 10:32 (GMT+7)

Sách do Phương Nam và NXB Văn nghệ hợp tác xuất bản - 2010.
(TBKTSG) - Nếu ai đó nghĩ rằng, mấy ông làm nghiên cứu kinh tế, chuyên gia tư vấn chính sách khi viết văn thường đầy lý trí, thực dụng thì họ đã sai, ít ra là khi đọc những bút ký như cuốn “Đường cái quan” của Bùi Quang Đạt.

Cuốn bút ký của chuyên gia kinh tế Bùi Quang Đạt mỏng, chưa đến 150 trang nhưng gói trong nó sự thao thức của một người Việt tha hương “đi tìm đất Tịnh” mà hồn luôn day dứt “nhớ về đất Hằng”.

Xuyên suốt cuốn sách là những kinh nghiệm và suy tư trong suốt hành trình rong ruổi từ một cậu sinh viên gốc Việt nghèo ôm đàn đi hát trong những tụ điểm sặc mùi hiện sinh ở Paris, cho đến khi trở thành một tiến sĩ giảng dạy về kinh tế và tài chính hay làm chuyên gia tư vấn tại các nước nghèo châu Á, Nam Mỹ, châu Phi.

Phía sau những cảm xúc, rung động mãnh liệt mà chóng vánh với những bóng giai nhân, phía sau những cuộc gặp gỡ bạn bè, phía sau những cuộc hội ngộ đồng hương trên đất lạ được viết với cái giọng đôi khi tưởng chừng cà rỡn, là câu chuyện thân phận một con người gắn bó bằng những sợi dây vô hình với nơi mình sinh ra, mà ta vẫn gọi là quê nhà, dù họ tự nguyện ra đi hay bị xô đẩy ra đi.

Cuốn bút ký thể hiện cái tình của con người trong cuộc xô đẩy dữ dội của những làn sóng di dân ở những nước nghèo. Tác giả truyền cho người đọc cái cảm giác hẫng hụt khi rời xa “người tình” châu Mỹ Latin ở hộp đêm Paris, sự cảm động khi gặp một bà cụ người Việt mặc áo tứ thân ngồi bán chạp phô trên đường phố Niger nghèo nàn để rồi ngậm ngùi vì lời thất hẹn với một “người tình” Mỹ Lai lưu lạc ở tận xứ Mã Đảo…

Và, trong tư cách của một chuyên gia kinh tế, tác giả đã chỉ ra những bất cập mang tính chất tân thực dân đang xảy ra với các nước nghèo trên thế giới. Ông đưa vào sách nhiều nhận định, nhiều suy tư và trải nghiệm. Ví dụ, phân tích vì sao sau khi thoát khỏi ách thực dân các nước châu Phi vẫn tiếp tục nghèo nàn và nợ nần, lệ thuộc chính trị vào các cường quốc; tác giả lý giải hiện trạng của Thái Lan, Lào hay Philippines trong bối cảnh mới…

Và tác giả nhìn thấy “Đường cái quan của đệ tam thế giới đã trở thành con đường mòn khúc khuỷu của thế thăng bằng bấp bênh giữa sự thịnh vượng trong vòng lệ thuộc và nền độc lập trong cảnh túng quẩn. Muốn giữ thế quân bình, quả là khó khăn! Song cũng chẳng còn phương cách nào khác” (trang 133).

Và cuối cùng, thấp thoáng một nỗi niềm đau đáu quê nhà của một trí thức xa quê (có lúc tác giả tự nhạo mình là “kẻ đánh thuê”). “Muốn lấy sở học để xây dựng xứ sở. Nhưng trên thực tế đã đem tâm não phục vụ cho xứ người. Có xả thân phục vụ cho ngoại nhân, cũng chẳng bao giờ được coi là người trong cuộc. Ngôi chủ, khách phân minh: con người bị đặt trong những hoàn cảnh có giới hạn không sao bước đến cuối đường của lộ trình tạm vay mượn!”.

Chương cuối cuốn sách, tác giả kể câu chuyện trở về Việt Nam vào năm 1992 sau những chuỗi ngày rong ruổi. Nhưng việc trở về quê hương cũng khiến ông thao thức: có phải đây cũng chỉ là sự tiếp tục hành trình tìm học thêm một “sàng khôn” như cái tích người ở đất Hằng Châu trưởng thành nơi đất Tịnh Châu, lúc về già chỉ nhớ Tịnh Châu mà quên hẳn đất Hằng Châu?

Tác giả sinh năm 1949, tại Hà Nội; tốt nghiệp Đại học Sorbonne (Pháp) và John Hopkins (Mỹ), từng giảng dạy kinh tế tài chính tại các trường đại học ở châu Phi và Bắc Mỹ; từng tư vấn cho các tổ chức quốc tế như Liên hiệp quốc, Ngân hàng Phát triển châu Á, Ngân hàng Thế giới tại châu Á, Nam Mỹ, châu Phi…

Một cuốn sách được viết với văn phong rất phóng khoáng và nhiều thao thức.

Vượt lên sự nghiệt ngã của thời gian by Tran van Tho

(TBKTSG) - Việt Nam từ năm 2011 - Vượt lên sự nghiệt ngã của thời gian (*) là tựa đề cuốn sách mới nhất của Giáo sư Trần Văn Thọ (Đại học Waseda, Nhật Bản) với gần 50 bài viết đã đăng tải trên các báo, phần lớn là trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn trong khoảng những năm cuối của thập niên 1990 đến nay.

Ngay từ cái tựa đề, tác giả đã gửi gắm cả niềm tin và sự mong ước vào một thời kỳ mới của đất nước đang được bắt đầu từ nay - một thời kỳ mà kinh tế - xã hội phát triển mạnh mẽ và bền vững, vượt qua thách thức về thời gian, lấy lại một phần những gì đã mất và rút ngắn khoảng cách với các nước chung quanh. Như tác giả trong lời mở đầu cuốn sách đã viết: “Một cá nhân hay một dân tộc biết chạy đua theo thời gian có thể làm nên những kỳ tích đổi đời, thay đổi diện mạo đất nước; ngược lại nếu không có ý chí tranh đua với thời gian, không có nỗ lực vươn lên thì sẽ bị lịch sử bỏ lại đàng sau”.

Với nhiều độc giả, tên tuổi Giáo sư Trần Văn Thọ từ lâu đã gắn với những công trình nghiên cứu, những bài viết sâu sắc, mang tính khoa học cao, đề cập đến những vấn đề vĩ mô, có tính chiến lược về phát triển kinh tế và một số lĩnh vực khác như giáo dục, văn hóa, xã hội… Cái hay trong các công trình, bài viết đó là không thuần về lý thuyết, quá nặng tính hàn lâm mà thường gắn với những vấn đề thời sự trong nước và trên thế giới, góp phần giúp người đọc hiểu được thực chất những gì đang diễn ra và tác động của nó trong tương lai.

Mặt khác, qua các bài viết, tác giả cũng đưa ra những đề xuất, kiến nghị đóng góp cho việc xây dựng các chính sách, biện pháp thúc đẩy kinh tế nước nhà phát triển bền vững. Do vậy, có thể thấy rõ đằng sau các con chữ là cả tấm lòng, là nỗi ưu tư, trăn trở của một người trí thức có tầm nhìn xa, luôn nặng tình với quê hương, đất nước.

Và cũng chính vì vậy mà những bài viết như: Từ xuân Quang Trung đến thế kỷ 21, Xác lập tinh thần Nguyễn Trãi trong quan hệ kinh tế Việt - Trung, Kinh tế Việt Nam trực diện hai cái bẫy: chiến lược từ năm 2011, Đường sắt cao tốc: Việt Nam ngày nay và Nhật Bản 50 năm trước, Kinh tế Việt Nam trước sự trỗi dậy của Trung Quốc… đã tạo ra được sức thuyết phục mạnh mẽ và sự đồng cảm sâu sắc nơi đông đảo độc giả trong thời gian qua.

Thực ra, qua sáu nội dung của cuốn sách, bao gồm: Khí khái của người xưa và bản lĩnh thời nay; Tầm nhìn thời đại và chiến lược phát triển; Việt Nam và thời đại Đông Á; Năng lực xã hội; Giáo dục: ý kiến cũ mà vẫn mới và Phụ trang: bút ký thời sự, còn có nhiều bài viết đặc sắc như vậy. Và như lời giới thiệu của Giáo sư Chu Hảo: “Sẽ là hết sức bổ ích nếu độc giả có thể dành thời gian đọc hết cuốn sách này để chia sẻ với tác giả tình yêu Quê hương - Đất nước và sự hữu trách của sỹ phu thời nay đối với vận mệnh của Dân tộc”.

Trần Huy - The SaigonTimes

______________

(*) Sách do NXB Tri Thức xuất bản, dày 362 trang, giá bìa 89.000 đồng, được Công ty Cà phê Trung Nguyên hỗ trợ chi phí in ấn. Thông qua Quỹ Thời báo Kinh tế Sài Gòn (Saigon Times Foundation) doanh thu từ việc bán sách sẽ được dùng cấp học bổng cho học sinh thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, nơi tác giả đã từng trải qua thời học cấp trung học. Độc giả muốn mua sách liên hệ: Ban Tiếp thị và Bạn đọc TBKTSG, ĐT: 38210019, Email: phathanh@thesaigontimes.vn ; hoặc: cô Hoàng Tuyền, Saigon Times Foundation, ĐT: 37402712, 0903393899.