Sunday, June 5, 2011

03/06 Vẫn chưa xác định được nguồn gốc dịch E.coli


Thứ Sáu, 03/06/2011, 08:18 (GMT+7)
TT - Dịch khuẩn E.coli vẫn tiếp tục lan rộng ở châu Âu, nhất là ở Đức. Deutsche Welle đưa tin hôm 1-6 đã có thêm 365 người bị nhiễm khuẩn, khoảng 25% đã mắc triệu chứng HUS gây tiêu chảy nặng và suy gan.
Tổng cộng hơn 1.500 người ở Đức nhiễm bệnh, 17 người đã thiệt mạng. Ở Thụy Điển có 36 người nhiễm bệnh và 1 người chết. Các trường hợp nhiễm E.coli cũng xuất hiện ở Đan Mạch, Hà Lan, Anh, Tây Ban Nha, Pháp, Thụy Sĩ, Thụy Điển và mới đây nhất là hai người ở Mỹ, trước đó từng đến Hamburg (Đức).
Nhân viên y tế Cộng hòa Czech xét nghiệm một mẫu ớt để tìm vi khuẩn E.coli - Ảnh: Reuters
Tính chung đến ngày 2-6, toàn châu Âu đã có 18 người thiệt mạng và 1.559 người nhiễm bệnh. Tổ chức Y tế thế giới và các nhà khoa học thuộc Viện Gen Bắc Kinh (Trung Quốc) ngày 2-6 cho biết khuẩn E.coli phát hiện ở châu Âu là một chủng khuẩn mới chưa từng được ghi nhận. Với những đặc tính kết hợp giữa hai chủng khuẩn khác nhau khiến dịch ở khu vực này lan rất rộng và nguy hiểm, theo AP.
Ông Reinhard Burger, chủ tịch Viện Robert Koch trực thuộc Bộ Y tế Đức, dự báo dịch E.coli có thể sẽ còn hoành hành trong nhiều tháng nữa trước khi bị dập tắt.
Hiện tại các cơ quan y tế Đức vẫn “mù tịt” về nguồn gốc đại dịch E.coli. Ông Burger thừa nhận nhà chức trách có thể sẽ không bao giờ xác định được nguồn gốc dịch. Đức đã phải minh oan cho dưa chuột Tây Ban Nha khi khẳng định các xét nghiệm cho thấy mặt hàng này không chứa vi khuẩn E.coli.
Ủy ban châu Âu (EC) cũng dỡ bỏ cảnh báo về dưa chuột Tây Ban Nha. Phía Tây Ban Nha đang đe dọa sẽ thay mặt nông dân nước này kiện nhà chức trách Đức vì đổ tội cho dưa chuột Tây Ban Nha nhiễm khuẩn làm nông dân Tây Ban Nha thiệt hại khoảng 200 triệu euro (290 triệu USD) mỗi tuần.
Chính quyền các nước châu Âu đã kêu gọi người dân nên rửa thật sạch các loại rau củ cũng như rửa tay trước khi ăn để ngăn chặn đại dịch lây lan. Trong khi đó, Nga vừa ra lệnh cấm nhập khẩu toàn bộ mặt hàng rau củ từ Liên minh châu Âu (EU) do đại dịch vi khuẩn E.coli ở Đức.
SƠN HÀ

05/06 Bệnh nhân đầu tiên chữa khỏi bệnh AIDS đã xuất hiện


Chủ Nhật, 05/06/2011, 13:01 (GMT+7)
TTO - Anh Timothy Ray Brown 45 tuổi, bệnh nhân AIDS đầu tiên được chữa khỏi, đã thường xuyên xuất hiện trước công chúng nửa tháng trở lại đây, như một minh chứng sống về hi vọng có thể chấm dứt dịch bệnh này.
Anh Timothy Ray Brown - Ảnh: AP
Báo Los Angeles Times cho biết cách đây hai tuần, Timothy đã xuất hiện và phát biểu tại một hội nghị do Quỹ Nghiên cứu AIDS Hoa Kỳ tổ chức.
Anh Timothy sinh ra tại Seattle. Anh công khai mình đồng tính vào năm 18 tuổi, sau đó bắt đầu những chuyến đi tại châu Âu. Khi dừng chân ở Đức và làm công tác biên dịch tại Berlin, Timothy lần đầu tiên biết mình bị nhiễm HIV vào năm 1995. Lúc đó anh còn bị thêm chứng ung thư máu. Tuy vậy, anh vẫn gắng gượng tồn tại đến năm 2006 bằng việc uống thuốc kháng virus mỗi ngày.
Câu chuyện của Timothy như một phép lạ và nhanh chóng lan rộng, đặc biệt trong cộng đồng khoa học quốc tế. Tròn 30 năm ngày khám phá ra virus HIV, các nhà khoa học quyết tâm tìm kiếm phương pháp loại trừ virus HIV. Họ có niềm tin vào điều này vì sự phát triển của khoa học và một phần vì phải giải quyết bài toán kinh phí. Tại những nước đang phát triển, việc chăm sóc cho các bệnh nhân AIDS đã tốn 13 tỉ USD mỗi năm và con số này có thể tăng gấp 3 trong vòng 20 năm tới.
"Trong thời buổi kinh tế khó khăn hiện nay, việc tìm ra cách điều trị cho căn bệnh thế kỉ này càng trở nên cấp thiết. Chúng ta phải tìm chiến lược dài hạn", bà Francoise Barre Sinoussi là nữ khoa học gia đã nhận giải Nobel 1983 cho công trình phát hiện ra virus HIV nói.
Năm 2006, anh đến tìm gặp tiến sĩ Gero Huetter, một chuyên gia về ung thư máu tại đại học Y khoa Berlin. Tiến sĩ Hutter đã đề ra một giải pháp: diệt sạch toàn bộ hệ thống miễn dịch của Timothy bằng bức xạ và sau đó ghép tủy để hồi phục lại hệ miễn dịch. Việc ghép tủy đã được tiến hành vào năm 2007.
Tháng 12-2010: trong một bản báo cáo tóm lược, tiến sĩ Hutter và các đồng nghiệp đã thông báo tin kì diệu: bằng cách sử dụng phương pháp trên, tủy của một người hiến trong tổng số 230 mẫu đã chuyển vào trong hệ miễn dịch của Timothy một loại gen khác lạ và có thể kháng cự lại với virus HIV. Anh Timothy không những không còn bị ung thư máu mà còn thoát khỏi sự đe dọa của "thần chết" AIDS.
Phương pháp điều trị của Timothy chưa được công khai để áp dụng rộng rãi do sự phức tạp, ẩn chứa nhiều rủi ro và giá cả đắt đỏ.
Và một yếu tố tiên quyết khác là phải tìm được người hiếm hoi sở hữu gen kháng cự với virus HIV, vì theo tiến sĩ Hutter thì tỉ lệ những người sở hữu gen này chỉ chiếm 10% khu vực Bắc Âu.
Thậm chí hồi năm ngoái, tiến sĩ Robert Gallo ở đại học Maryland đã nói "phương pháp này có thể giết người"
Tuy vậy, đối với Timothy, anh vui mừng khi được đóng vai trò "chất xúc tác" trong quá trình thể nghiệm điều trị AIDS. Hiện tại anh sống ở San Francisco và không còn phải uống thuốc chống virus mỗi ngày. "Thật là kì diệu. Tôi đã mắc hai căn bệnh nguy hiểm nhất nhưng tôi đã hoàn toàn loại bỏ được chúng", anh nói.
TẤN KHOA (Theo Los Angeles Times, Reuters)

05/06 Yêu kiều hotgirl shopping cùng iPad 2

Chủ Nhật, 05/06/2011, 20:55 [GMT+7]
(Phunutoday) - Apple iPad 2 thực sự khơi dậy cả một trào lưu với sức mạnh và độ tiện dụng đến tuyệt vời. Giờ đây phái yếu đã có thêm một món đồ trang sức hữu dụng mới để đem theo bên mình vừa để giải trí, vừa làm dáng mà vẫn đáp ứng được công việc thường nhật.

Một ngày cuối tuần đi shopping thật là khoảng thời gian thú vị đối với chị em. Những chiếc máy tính bảng iPad 2 đóng vai trò như trợ thủ đắc lực để dẫn đường, truy cứu thông tin giảm giá hay thậm chí nhận các chương trình khuyến mại tại các trung tâm thương mại lớn.
 
503546.jpg
 
503547.jpg
 
 
 
 
 
 
 
  • Nguyên Hồng

Saturday, June 4, 2011

31/05 Băng sex của Jennifer Lopez sắp bị phát hành



Thứ Ba, 31/05/2011 20:35


Nữ ca sĩ đã nhận được tin xấu từ tòa án Los Angeles khi người chồng cũ, Ojani Noa, được phép công bố đoạn băng ghi cảnh giường chiếu nóng bỏng của hai người.

Những thước phim này được thực hiện trong thời gian ngắn ngủi Jennifer Lopez sống cùng Ojani Noa (năm 1997). Ojani đã nhiều lần đe dọa sẽ tiết lộ cuộn băng sex này và J.Lo phải nhờ đến tòa án can thiệp. Nữ giám khảo American Idol từng thắng kiện vì trước đây, cô đã ký hợp đồng cấm chồng cũ công bố những hình ảnh riêng tư của hai người.

Jennifer Lopez và Ojani Noa khi còn là vợ chồng
Tuy nhiên, gần đây, Ojani Noa đã tìm được một kẽ hở để phát hành đoạn phim nóng. Anh ta bán cuốn băng cho bạn gái hiện tại, Claudia Vazquez, và cô gái này đang lên kế hoạch phát hành thước phim một cách hợp pháp. Claudia lập luận rằng, cô có quyền chia sẻ cuốn băng với công chúng vì nó gây đau khổ cho cuộc sống hiện tại của cô.

Ed Meyer, giám đốc sản xuất liên quan tới dự án phát hành cuốn băng, chia sẻ: "Claudia Vazquez đã được phép tiết lộ video giường chiếu của Ojani và Jennifer. Cô ấy sẽ gặp chúng tôi để thảo luận vào ngày 31/5 và hy vọng mọi việc sẽ được triển khai sớm".

J.Lo đang có gia đình hạnh phúc với Marc Anthony và hai con - Ảnh: Fame.
Nếu băng sex được tung ra, hình ảnh của nữ ca sĩ tài năng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ngôi sao 41 tuổi đang có cuộc sống hạnh phúc với Marc Anthony và cặp song sinh 3 tuổi, cùng sự nghiệp âm nhạc ngày càng tỏa sáng.
Vài năm trước, J.Lo từng kiện Ojani khi anh ta cố tình viết một cuốn sách phơi bày cuộc sống vợ chồng của hai người và làm phim về cô. Chồng cũ của J.Lo đã thua kiện và phải bồi thường 545.000 USD.

Theo Ngôi sao

Bình luận (1)

FootBall
Người ta hành động cao cả - vì tình yêu. Người ta hành động đồ tể - do tình yêu. Đốn mạt thay là Chồng cũ của Jennifer Lopez...
hoangminhnam  (hoangminhnam@gmail.com) (08:00 01/06/2011)

04/06 “Đột nhập” nhà Jennifer Lopez


Thứ Bảy, 04/06/2011 08:48


Dinh thự của Jennifer Lopez được miêu tả là mang đúng phong cách của cô - lãng mạn, sang trọng, xa hoa.

Nhà của vợ chồng Jennifer Lopez trang hoàng
với những tông màu nhã nhặn, tươi sáng

Hoa tươi có ở khắp nơi

Phòng khách trang nhã, thanh lịch

Phòng bếp rộng, sáng và sạch bóng

Một phòng khách khác với nhiều ghế sofa màu kem lịch sự

Phòng ngủ ngọt ngào và ấm áp. Hầu hết các căn phòng
đều có đèm chùm đắt giá

Nhà có trẻ con nhưng không hề bừa bộn

Ngôi nhà thể hiện gu thẩm mỹ tinh tế của chủ nhân

Nhiều vật lưu niệm được trưng bày ở khắp nơi trong ngôi nhà
khiến nhà của J.Lo càng giống một viện bảo tàng

 Một chiếc váy của Jennifer Lopez được trưng như vật lưu niệm trong nhà

Vợ chồng Marc Anthony - Jennifer Lopez.

Theo Dân Trí

27/05 Người Mỹ không còn biết tới thơ! (Bài kết)



Thứ Sáu, 27/05/2011 08:38


(TT&VH Cuối tuần) - Những học sinh Mỹ bình thường hầu như không biết về thơ ca nói chung. Chỉ vài trường hợp hiếm hoi, thường do giáo viên dạy họ thích thơ, khuyến khích, thì họ mới đụng đến vài bài thơ.

Điều này hoàn toàn khác với nhiều nền văn hóa có truyền thống rõ nét về thơ. Tại Pháp, các học sinh phổ thông đều có thể thuộc thơ Baudelaire. Hầu như người Tây Ban Nha nào cũng biết rõ về cuộc đời của Frederico Garcia Lorca. Tương tự như vậy, học sinh Việt Nam được yêu cầu phải học các giáo trình căn bản về “lịch sử và thi pháp thơ”. Và có vẻ như, ngay cả những học sinh rất bình thường thì cũng biết về Truyện Kiều của Nguyễn Du; hay thế kỷ 20 thì phải thuộc vài bài thơ của Tố Hữu hay Xuân Diệu. Tại Mỹ, đây là chuyện xa lạ, hoặc chỉ thuộc các trường hợp cá biệt.

Ngay cả ở mức độ tiên tiến, học sinh trung học Mỹ cũng chỉ tiếp xúc với Canterbury Tales của Chaucer, Sonnetcủa Shakespeare, và có lẽ, The Raven của E.A.Poe (ít nhất là ở New York, trong hệ thống trường công). Trong trường hợp hiếm hoi, họ có thể học vài bài thơ đơn giản của Robert Frost hoặc Wallace Stevens. Nói chung, thơ được coi là thứ “cao cấp”, chỉ phù hợp với các khóa học cấp đại học, thậm chí, sau đại học, thuộc các chuyên ngành văn chương. Hầu hết người Mỹ không hiểu gì về công việc của Walt Whitman, Emily Dickinson, T.S.Eliot hay Ezra Pound. Ngay cả những sử thi lớn nhất trong ngôn ngữ tiếng Anh, như Thiên đường đã mất của John Milton cũng chỉ dành cho các hội thảo cao cấp ở đại học.

Ảnh chỉ mang tính minh họa

Thơ hiện đại Mỹ, chẳng hạn như trường phái Black Mountain hay thơ L = A = N = G = U = A = G = E, nói chung là không thể mua được ở các hiệu sách. Những tác phẩm này thường xuất bản trên máy in cá nhân với số lượng hạn chế; phần lớn, thường chỉ có trên mạng, thông qua các bản chụp lại. Các tác phẩm của Bruce Andrews thì chỉ có trong ngăn kéo riêng của các nhà thơ. Ngay cả The Maximus Poems của C.Olson cũng chỉ được tìm thấy trong hiệu sách ở trường đại học, theo chỉ dẫn và yêu cầu của giáo sư. Chúng được coi là “sách giáo khoa” cho các chuyên ngành văn học cấp cao.

Tại sao như vậy? Có lẽ, một phần do truyền thống thơ tiếng Anh không dễ để tiếp cận với người đọc. Những người Mỹ bình thường cũng không dành nhiều thời gian đọc sách, hoặc dành riêng cho thơ. Họ dành phần lớn thời gian rảnh rỗi để xem tivi và đôi khi đọc New York Times Bestseller hoặc sách do MC Oprah chọn, về các tác giả đại loại kiểu như Dan Brown hoặc John Grisham. Họ thấy thơ ca, đặc biệt thơ hiện đại, là quá mịt mù, quá khó khăn để đọc hiểu hoặc giải khuây.

Điều này có lẽ đúng. Ngay cả với kiệt tác Lá cỏ hay Đất hoang cũng vậy, nó đòi hỏi phải có kiến thức và sự am hiểu sâu sắc về Anh ngữ. Vốn từ dành cho thơ thường vượt xa mức bình thường của người Mỹ, đó là chưa nói, khi đọc, phải có kiến thức về triết học, ngôn ngữ học, nghệ thuật và truyền thống văn học cổ điển. Với các trường học bình thường, học sinh sẽ không có đủ vốn từ vựng để đọc thơ. Không giống như các ngôn ngữ khác, tiếng Anh giao tiếp hàng ngày thường khá đơn điệu về vốn từ, chỉ dùng một phần nhỏ số từ có trong từ điển Oxford. Cho nên, thật tồi tệ cho thơ Mỹ, khi mà, thơ có vẻ là lĩnh vực chỉ dành cho các học giả hoặc những con mọt sách cao cấp.

Alec Schachner (nghiên cứu sinh, ĐH Columbia)

24/05 “Nước thơ” cũng khủng hoảng thơ



Thứ Ba, 24/05/2011 07:07
Thơ đang sống kiểu gì 
Khoảng một thập niên qua, trên thế giới và tại Việt Nam, thơ đang “sống” (sáng tác, phát hành…) như thế nào là một câu hỏi thật khó trả lời rốt ráo. Nhưng có thể nhìn thấy một điểm chung: đang sa sút.
Tại Việt Nam, có hơn 1.000 nhà thơ là hội viên từ trung ương đến địa phương, trong đó Hội Nhà văn Việt Nam có khoảng 300 nhà thơ. Đó là chưa nói những nhà thơ không là hội viên, càng đông hơn gấp bội. Thế nhưng, làm sao để kìm hãm sự khủng hoảng của thơ và xốc lại vị thế của nhà thơ trong xã hội hiện nay là một vấn đề nan giải. 
Chuyên đề này đề cập vài nét đến đời sống của thơ/nhà thơ tại Việt Nam, Mỹ và Pháp. 
Tổ chức chuyên đề: VĂN BẢY

(TT&VH Cuối tuần) - Việt Nam lâu nay, dù không chính thức, vẫn được xem là “nước thơ”, vì gần như ai cũng có khả năng đọc một câu thơ để bày tỏ quan điểm, tình cảm, cách nhìn... của mình. Hơn nữa, với khoảng 24 triệu học sinh các cấp và gần 1/3 dân số đang đi học (theo thống kê năm 2010), phải học văn, thuộc thơ là chuyện đương nhiên. Nền tảng là như vậy, nhưng thử nhìn lại đời sống của nhà thơ và tác phẩm thơ hiện nay, có vẻ như đang khủng hoảng trầm trọng.

Thừa thơ, thiếu người đọc

Trong vai trò Phó chủ tịch Hội đồng thơ của Hội Nhà văn Việt Nam, Inrasara thẳng thắn rằng trong khoảng 300 nhà thơ là hội viên, “tôi chỉ đọc được 15 người. Khoảng 15 người nữa tôi có đọc nhưng đã… quên. 270 nhà khác, tôi hoàn toàn chưa đọc. Vì không có cơ hội đọc”.

Không phải ngẫu nhiên, mà 15 năm qua, kể từ khi nữ sĩ Wislawa Szymborska (Ba Lan) thắng giải Nobel năm 1996 về thơ, dù đề cử năm nào cũng khá nhiều nhà thơ, nhưng Nobel vẫn cứ làm lơ với thơ. Năm 2005, giải từng trở lại với Harold Pinter, nhưng ở địa hạt kịch nghệ, trong diễn văn, họ tuyên dương các vở kịch, không đề cập đến các bài thơ của văn sĩ này.
Rất đông người tới hội thơ nhưng mua thơ thì… không !
(Ảnh tư liệu tại Hội thơ Ngàn năm Thăng Long)
Ngay sau giải Nobel, trong khi các nhà văn (chủ yếu là tiểu thuyết) sẽ được dịch ồ ạt ra các thứ tiếng, tiền bản quyền mà tác giả thu về là rất nhiều; thì với các nhà thơ, việc dịch diễn ra chậm chạp, nhỏ lẻ, vì thơ khó dịch một chuyện, vì khó tìm độc giả lại là chuyện khác, thực tế hơn.

Năm 2007 có hơn 1.000 tập thơ được cấp phép ở các nhà xuất bản tại Việt Nam, trung bình mỗi ngày có 3 tập thơ ra đời. Phần lớn thơ này là để tặng người quen và để bán giao hữu, vì “kênh” và “đất” dành cho việc phát hành thơ ngày càng thu hẹp. Đây được xem là một biểu hiện của khủng hoảng thừa.

Đầu tiên, sự khủng hoảng được nhìn thấy ngay từ các tờ báo Xuân (vốn hay in văn thơ), mấy năm gần đây, thơ cũng dần dần bị loại ra khỏi mục lục. Những nhật báo trước đây có chuyên mục dành cho thơ, bây giờ cũng dẹp luôn. Ngay cả đài phát thanh, truyền hình… thì cũng năm thì mười họa, vì rất khó tìm kiếm khán thính giả cho chương trình đọc thơ. Các báo, tạp chí văn học của các hội thì số lượng phát hành rất ít và ngày càng ít hơn, chủ yếu phát cho các hội viên và độc giả cũ, tìm độc giả mới rất khó.

Các nghiên cứu về thơ cho thấy, môi trường lý tưởng để ươm mầm, nuôi dưỡng thơ chính là sự rảnh rỗi về thời gian và các biến cố về tâm hồn.
Ngay cả các nhà thơ cũng ít khi nào mua thơ, nên cũng ít khi nào đọc thơ của người khác, nhất là những phong cách thơ khác mình. Khi đi các tiệm sách cũ, thấy rất nhiều quyển thơ được tặng (với tên người nhận là văn nghệ sĩ nổi tiếng) nằm ở đó, đủ hiểu phần nào tình hình đọc thơ hiện nay.

Đa phương tiện lèo lái

Các nghiên cứu về thơ cho thấy, môi trường lý tưởng để ươm mầm, nuôi dưỡng thơ chính là sự rảnh rỗi về thời gian và các biến cố về tâm hồn. Xã hội tiêu dùng thì có vẻ như đi ngược lại hai yếu tố đó, khi mọi nhu cầu bề nổi luôn được đáp ứng, các giá trị thực dụng thì “ru ngủ”, đúng hơn xô kéo, khiến tâm hồn đứng ra ngoài quỹ đạo và mối ưu tư của nó.

Kỷ nguyên mạng và tiện ích như website, các diễn đàn, blog, các trang xã hội, các liên kết, thậm chí điện thoại di động… đã làm cho các giá trị về sáng tạo và thưởng lãm thay đổi cực độ. Điều này dễ dàng được nhìn thấy thông qua việc một bài thơ “độc”, bài văn “lạ”, ca khúc “hiểm”, video “khủng”… sau khi được post lên mạng, các liên kết đã mau chóng được xác lập, có khi lên đến cả chục nghìn, thậm chí cả triệu page-view hưởng ứng. Thơ sống trong bối cảnh này, đương nhiên phải chịu những ảnh hưởng nhấn định; đương nhiên phải thay đổi cả phương cách sáng tác, xuất bản và phát hành, nếu không, sẽ lạc “rơ”.

Sự lạc lõng cũng dễ nhìn thấy ở cách ứng xử với việc công bố tác phẩm, trong khi nhiều tác giả bảo thủ thì ra sức bảo vệ cách xuất bản truyền thống (sách in), thì các tác giả trẻ lại chọn hướng trực tuyến, liên mạng. Nhìn lại dư luận thơ 5 năm qua, phần lớn các nhà thơ trẻ định hình tên tuổi của mình từ trực tuyến; sau khi cọ xát đủ đầy, họ chọn ra những bài ưng ý để in thành sách. Việc xuất bản vốn tốn kém, trong khi việc phát hành thì gần như vô vọng, các tác giả trẻ, vì ít quan hệ, chọn xuất bản online cũng là đúng thời cuộc.

Chính hấp lực của thời đa phương tiện, trong mấy năm qua, thơ Việt cũng đã cựa quậy bằng nhiều hình thức, từ trình diễn cho đến tự xuất bản. Mà trình diễn, đâu chỉ có nhà thơ trẻ, những thế hệ tiền bối như Dương Tường, hoặc thế hệ U70, U60… đều có tham gia sôi nổi. Việt Nam cũng đã lập nên Ngày thơ, với mong ước dành cho thơ một ngày riêng và hy vọng thơ lấy lại được phong độ của mình. Ngay cả các tác giả đã thành danh như Trần Dần, Hoàng Cầm, Xuân Quỳnh, Nguyễn Duy, Phan Thị Vàng Anh… thì các tuyển tập thơ được xuất bản trên giấy vẫn “ồn ào” trên mạng nhiều hơn.

Một vấn đề khác cũng cần đề cập, là dù còn được bao cấp một phần với các hội liên hiệp, với các quyền lợi cụ thể, nhưng vai trò và vị thế của các nhà thơ (đang là hội viên) cũng đã thay đổi rất nhiều. Ngày trước, khi trí thức còn được đồng nghĩa với thơ văn, thì vị trí nhà thơ trong xã hội còn được nể trọng. Ngày nay, khi có quá nhiều giới “sĩ” xuất hiện, tại các quan hệ cộng đồng, ca sĩ, nhạc sĩ (viết ca khúc), nghệ sĩ biểu diễn… đã lấn át vị thế của nhà thơ. Đến mức, việc xưng danh mình là nhà thơ đã không được chính những người làm thơ trẻ thường xuyên thể hiện. 

Cho nên, thật khó để trả lời xác đáng câu hỏi: Vị thế của nhà thơ trong cuộc sống hiện thời như thế nào? Nhưng có thể thấy, thời hoàng kim của thơ đã tạm thời đi qua và có vẻ như, còn lâu mới quay trở lại.

Ra đời tháng 4/2008, sau hai năm hoạt động, giải thưởng thơ Bách Việt đã nhận được gần 1.000 tập thơ dự thi. Lê Thanh Huy (GĐ Bách Việt) chia sẻ: “Chúng ta nên có cái nhìn thực tế và phân biệt được rằng: đời sống của một loại hình văn hóa (thơ) không nhất thiết đồng nghĩa với đời sống thương mại của sản phẩm văn hóa đó. 
Tôi nghĩ trong đời sống hiện đại, người ta có nhiều thứ phải quan tâm hơn nên sự ưu ái dành cho thơ không còn được như trước, chứ không hẳn thơ đã mất đất sống. Ngay từ phía người sáng tác, cũng là tính chuyện viết một cuốn sách, nhưng người ta sẽ nghĩ đến truyện ngắn hay tiểu thuyết nhiều hơn, vì dễ in hơn, nhuận bút cũng khá hơn. Còn viết một tập thơ, không ai đảm bảo là viết nhanh, lại dễ xuất bản hoặc nhận được nhuận bút, hoặc có số lượng bản in nhiều. 
Đó là chưa kể tình trạng “người người làm thơ”, ai cũng có thể vỗ ngực xưng danh là nhà thơ, có tiền là in thơ, gây nhiễu loạn. Tôi đã gặp không hiếm tình trạng “thơ phường”, “thơ tổ hưu”… gửi đến Bách Việt “đòi” xuất bản vì đã được in trên một vài tờ báo địa phương, báo ngành. Tình trạng này dần dần làm mất sự chú ý của độc giả với thơ chân chính, vì cái cảm giác dễ dãi, vàng thau lẫn lộn. Điều này cũng khiến họ dè chừng, “khắt khe” hoặc dửng dưng với thơ, khi mà họ hay gặp “hàng dỏm”. Trước tình thế như vậy, tôi nghĩ về lâu dài, thơ cũng nên thay đổi “chiến lược” của mình”.

Bài 2 - Chuyện nước Mỹ: Ai dám vỗ ngực mình nhà thơ?
Văn Bảy